Hiển thị các bài đăng có nhãn giong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

Quy trình nhân giống hoa Lan bằng phương pháp nuôi cấy in-vitro








4/4/2007


Lan là loại hoa vương giả, với vẻ đẹp vương giả, quý phái nên khắp nơi trên thế giới ngày càng có nhiều người thích chơi hoa Lan. Chính vì vậy, hoa Lan là sản phẩm trồng trọt luôn có giá trị kinh tế cao. Bắt kịp thị hiếu này, ngày nay đã xuất hiện nhiều cơ sở kinh doanh hoa Lan với nhiều chủng loại, giá cả khác nhau. Do đó, việc nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô in-vitro tạo ra hàng loạt cây con ổn định về mặt di truyền và đáp ứng giá cả phải chăng là vô cùng hữu ích.


Lan là loại hoa vương giả, với vẻ đẹp vương giả, quý phái nên khắp nơi trên thế giới ngày càng có nhiều người thích chơi hoa Lan. Chính vì vậy, hoa Lan là sản phẩm trồng trọt luôn có giá trị kinh tế cao. Bắt kịp thị hiếu này, ngày nay đã xuất hiện nhiều cơ sở kinh doanh hoa Lan với nhiều chủng loại, giá cả khác nhau. Do đó, việc nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô in-vitro tạo ra hàng loạt cây con ổn định về mặt di truyền và đáp ứng giá cả phải chăng là vô cùng hữu ích. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu quy trình cơ bản nhân giống Lan bằng phương pháp nuôi cấy mô in-vitro:


Quy trình trên được tiến hành qua các giai đoạn sau:

1. Chọn mẫu và khử trùng mẫu cấy:

Tách các vảy hành ra từ cây, bóc lần các lá già cho đến khi xuất hiện các mầm chồi bên mang đỉnh sinh trưởng. Cắt bỏ gốc của mỗi mầm, sau đó khử trùng bằng cách ngâm trong cồn 70% trong 30 giây, rửa sạch bằng nước cất vô trùng ngâm trong dung dịch Ca(OCl)2 2% trong 25 phút, việc khử trùng được tiến hành trong tủ cấy. Mô được rửa lại với nước cất vô trùng 4 - 5 lần.

Mỗi mầm được đặt trong đĩa petri vô trùng và cẩn thận tách các lá non. Sau mỗi lần tách, nhúng mầm vào cồn 700 trong 1 giây và rửa với nước cất vô trùng. Chuyển sang một đĩa petri vô trùng khác, tách các lá mầm bằng dao nhọn vô trùng. Dùng kìm nhọn tách các lớp lá, cắt đỉnh sinh trưởng ra khỏi mô và cấy vào môi trường nhân giống ban đầu.

2. Nhân giống:

Môi trường nhân giống thường là môi trường MS (Murashige Skoog, 1962) có bổ sung các chất điều hoà tăng trưởng (auxin, cytokinin,…) với tỷ lệ phù hợp tùy loài nhằm tạo điều kiện cho quá trình nhân chồi. Nồng độ các chất điều hoà sinh trưởng nên giảm dần trong các lần cấy chuyền sau đó. Các chất chiết trái cây cũng được đề nghị dùng như nước cốt cà chua, nước dừa, nước chuối, nước khoai tây... nhưng chúng chỉ có hiệu quả trong các lần cấy chuyền và thể tích cũng không quá 10% thể tích môi trường.

Nhiệt độ lý tưởng để nhân giống Lan là 220C - 260C và tuỳ vào mỗi loài.

Sau 4-8 tuần, đỉnh sinh trưởng chuyển sang màu xanh lục và tạo ra các khối tròn gọi là thể chồi. Thể chồi được lấy ra khỏi môi trường cấy ban đầu, dùng dao nhọn cắt làm 4-6 miếng tuỳ kích thước của chồi. Lát cắt được chuyển vào môi trường duy trì (môi trường phát triển chồi). Mỗi đỉnh sinh trưởng sẽ phát triển ra một thể chồi mới sau khoảng 4 tuần, có thể cắt tiếp và cấy chuyền sang môi trường mới.

3. Tái sinh cây hoàn chỉnh in-vitro:

Khi đạt đến số cây giống cần thiết, ta chuyển thể chồi sang môi trường tạo rễ (môi trường có lượng auxin tăng lên để kích thích ra rễ). Sau 4 -5 tháng, các thể chồi sẽ phát triển thành cây con.

4. Chuyển cây ra vườn ươm:

Cây con cao 5-7 cm và có từ 3-4 lá có thể chuyển sang cấy vào bầu đất mùn vô trùng có bổ sung các chất dinh dưỡng. Sau một thời gian cây phát triển ổn định ta đem chuyển vào chậu. Sau khi chuyển chậu khoảng một tuần mới được bón phân, lúc này cây đã có đủ sức chống chọi với bệnh tật.

Như vậy, từ một mô hoa Lan được chọn nuôi cấy cho đến ra cây con có 3-4 lá chuyển ra vườn trồng mất thời gian khoảng từ 8 đến 11 tháng.

Với phương pháp nhân giống vô tính như trên sẽ đảm bảo tạo ra cây con mang đặc tính giống hoàn toàn với cây cha mẹ (cây con ổn định về mặt di truyền), cây con không nhiễm bệnh và tạo được một số lượng lớn cây con trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, việc cấy mô phải được thực hiện thật nghiêm túc và tỉ mỉ theo đúng quy trình, phải có điều kiện về trang thiết bị đầy đủ, môi trường nhân tạo thích hợp, đặc biệt là điều kiện vô trùng phải được đảm bảo nghiêm ngặt. Cần chú ý thêm, đối với các loài không phải là cây bản địa, phải được thuần hoá tại vùng mới chọn mẫu đem nuôi cấy, có như vậy mới đảm bảo hiệu quả từ khâu nuôi cấy trong phòng thí nghiệm đến trồng ngoài vườn ươm.

Nhân giống và trồng cây mít nghệ
















10/4/2007

Cây mít nghệ là loại trái cây có phẩm chất ngon được nhiều người ưa chuộng. Đây là giống mít thích hợp để ăn tươi và làm nguyên liệu cho công nghệ sấy chân không.


Mít được nhân giống bằng hạt hoặc chiết ghép hoặc nuôi cấy mô.

I/ Nhân giống mít bằng hạt:

Nhược điểm của phương pháp này là: có nhiều biến dị, không giữ nguyên phẩm chất cây mẹ, lâu có quả (trung bình 4 - 8 năm), gieo hạt cây có rễ cọc, bứng trồng dễ chết.

II/ Tạo cây con bằng phương pháp chiết ghép:

Chiết rễ: lấy rễ có đường kính khoảng 2 -3 cm ở cây giống, cắt thành từng đoạn dài 20 - 25 cm. Sau đó đem giâm ngay, cắm nghiêng rễ, chừa một đoạn rễ trên mặt đất (3-5 cm). Sau đó, phủ một lớp cát, chú ý tưới nước giữ ẩm cho đến khi cây cao 10 cm.

2.1/ Chiết cành: Là phương pháp nhân giống mít được áp dụng rộng rãi. Chiết cành như những loại cây ăn trái khác. Chiết cành phải là cành tương đối già (2 -3 năm tuổi), nên chọn những cây mẹ định làm giống. Đường kính chỗ chiết lớn hơn 1 cm, tốt nhất 2 -3 cm. Khi bóc vỏ phải bóc cả vòng hình ống với chiều dài 4 -7 cm. Để khô 1 - 2 ngày rồi lấy đất bọc lại (đất bọc gồm 2 phần cát và 1 phần bùn). Ngoài cùng bọc bao nilon, rồi buộc chặt. Thường xuyên tưới nước để giữ độ ẩm. Có thể sử dụng một số hoạt chất để kích thích sinh trưởng nhằm tạo nhanh chồi và rễ.

2.2/ Ghép cây: Cây mít ghép sẽ cho trái sớm hơn, chống chịu sâu bệnh cao hơn, giữ phẩm chất cây mẹ. Tuy nhiên, tỉ lệ thành công rất thấp, chỉ đạt 20 - 40% (có thể do vết cắt chảy nhiều nhựa). Có hai cách ghép:

- Ghép mắt: mở cữa sổ, bóc bỏ mảnh gỗ dính với mắt. Nên lấy mắt ở cành già, ít nhất trên 12 tháng tuổi.

- Ghép áp: đây là phương pháp tốt nhất:

Tạo gốc ghép: có thể dùng hạt mít mật, mít dừa, mít ướt hoặc những cây có họ hàng với mít. Nên gieo hạt trong bầu được chuẩn bị sẵn. Dau khi gieo 2 tháng đem ra ghép.

Chọn cành và ghép cây: trên cây giống (cây mẹ) chọn cành cùng cỡ và cùng lứa tuổi (2 -6 tháng), dùng đọan cành ở ngọn, cành mọc đứng xiên ở ngoài tán. Gốc ghép trồng trong chậu tre, kê sát cành ghép và cành ghép rồi buộc lại với nhau. Sau khi ghép 2 tháng mở dây, cắt bỏ phần ngọn của gốc ghép và cắt rời phần ngọn của gốc cây mẹ. Chăm sóc cây con trong bóng râm mát, tưới nước cho đến khi cây con phát triển đầy đủ.

III. Cách trồng:

- Phải phủ gốc giữ ẩm cho mít. Mùa khô tưới 2-3 ngày/lần. Từ năm thứ 2 nên bón phân. Mít nghệ kỵå ngập úng nên mùa mưa phải có cống chống úng. Từ năm thứ 3, chỉ làm cỏ xung quanh gốc, nên giữ cỏ tạo vùng tiểu khí hậu ổn định.

- Khi mít cao 1m trở lên mới tỉa cành. Sau mỗi vụ thu hoạch tỉa cành một lần. Chỉ bỏ cành cấp 2, cấp 3, tỉa cành để mít sung và chống sâu bệnh tốt.

- Bón phân NPK vào cuối mùa mưa năm đầu với lượng 8kg/cây, bón cách gốc 30cm; năm thứ 2 bón đầu mùa mưa, bón 15kg/cây, cách gốc 80cm; năm thứ 3 cũng bón đầu mùa mưa nhưng ở rìa tán cây với lượng 25kg/cây. Hai năm sau, thu hoạch xong bón 35- 45kg/cây ở rìa tán cây.

Mít nghệ cao sản thường bị một số sâu, bệnh hại:

- Bệnh thối nhũn do độ ẩm cao, vườn rậm rạp, do nấm Rhizoctonia solari, Sclerotium, Pythium gây ra. Dùng Viben C50 BTN, Bonanza 100DD hay Tilt 250ND, Score 250EC.

- Bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytopthora xâm nhập, dùng thuốc Actara tiêm thẳng vào thân cây. Do bệnh thường khó phát hiện, khi biết bệnh đã nặng rồi, lá vàng rụng, nước dịch từ thân rỉ ra... khó chữa. Tốt nhất là nên trồng trên đất cao ráo, thoát nước tốt, vườn sạch.

- Ngoài ra mít còn bị sâu đục thân, đục cành, ruồi đục trái, sâu đục trái, ngài đục trái và rầy rệp phá hại...

Kỹ thuật thuần dưỡng và chăm sóc lan rừng








17/4/2007

Những năm gần đây, chơi lan là một thú chơi tao nhã của những người yêu hoa. Tuy nhiên, người yêu hoa lại muốn hướng tới một giò lan phong cách tự nhiên, hoang dã và không gì khác là lan rừng. Tuy nhiên, khi mua về nuôi trồng trong môi trường nhà thì gặp rất nhiều vấn đề như không phát triển, héo rũ, không ra hoa… Vì vậy, chúng tôi xin giới thiệu bí quyết thuần dưỡng và chăm sóc lan rừng.

Theo kinh nghiệm dân gian, muốn cho lan sinh trưởng tốt môi trường thuận lợi nhất cho lan bám vào cây tươi nơi thoáng gió, ít ánh sáng chói. Vì vậy, khi lan đưa vào trồng trong chậu cần chăm sóc từ từ cho cây quen dần, không bón thúc phân bón hóa học quá sớm. Lúc ấy lan rừng cần bóc cả vỏ gỗ mục (loại lan đang sống) bó lại để nơi thoáng mát, ngày tưới vài ba lần bằng cách phun sương đều cả lá thân rễ. Chăm sóc cho lan 1 tháng rồi chiết thành nhánh trồng vào giò. Chú ý lót giò bằng mùn cưa hay xơ dừa đều không được nén chặt. Tránh để ánh nắng gay gắt, thỉnh thoảng đưa lan ra ngoài trời đềm. Chơi lan không nên bón nhiều phân hóa học, chỉ cần đủ nước, ánh sáng và không gian phù hợp là cây phát triển tốt.

Khi muốn lan ra hoa bất thường, vào dịp tết chẳng hạn, thì bón phân qua lá dành riêng cho lan. Song cần rất hạn chế bón thúc cho hoa vì sau mỗi đợt bón như vậy cây sẽ yếu sức. Tốt nhất là cách hai tháng lại thay lót giò 1 lần bằng xơ dừa mạt cưa. Hoa tàn thì cắt ngay cuống lá để tập trung dinh dưỡng nuôi cây lại sức. Tứơi nước nhẹ đều đặn ngày vài ba lần là cây sống khỏe không cần bón phân.

Chăm sóc

Một trong những đặc điểm sinh học đặc trưng của lan- loài cây khó tính là o ử chỗ có khả năng chịu cớm cao, ưa ẩm và bóng râm nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảm năng suất và phẩm chất. Còn bị ánh nắng trực tiếp nhất là nắng quá chiều sẽ gây lụi tàn nhanh chóng mặc dù vẫn được cung câp đầy đủ nước và khoáng hòa tan.

Phòng ngừa tác hại của nắng hạn đối với lan, ta cần chủ động tiến hành một số biện pháp sau:

Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào giỏ, bụi lan và toàn bộ giá thể (lồng lan), đặc biệt “kỵ” với nắng quái chiều và gió Tây (gió Lào). Nếu trồng đại trà thì phải làm giàn che bằng lưới nilon có lỗ để lan vẫn quanh hợp được. Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho tòan bộ cây và giá thể theo kinh nghiệm “2 ướt 1 khô” trong ngày đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn. Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ và dự trữ. Phun vấy xối xả sẽ làm thất thoát chất khoáng nuôi cây.

Đối với địa lan: Chăm sóc như đối với phong lan, cần chú ý đảm bảo đất nền tơi xốp, nhiều mầu ở thể hữu cơ đang hoai mục là tốt nhất. Nên bổ sung từ 10-20% vụn gỗ mục (cả vỏ), 10-20% (theo khối lượng tổng thể) các mẩu than gỗ nhỏ luôn ẩm (nhưng không ướt sũng) để nhử rễ ăn ra mà ta quen gọi là hồ rễ. Tránh gió khô, gió lỳa qua phần nổi của cây. Làm mát đất bằng phun tưới nước loang theo bóng tán. Cần loại bỏ ngay những lá già (đã úa vàng) đẻ ngăn chặn sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ đã hết chức năng hấp thụ hơi nước và cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nuôi cây.

Không nên dùng NPK- loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để bón cho lan. Để cây tươi lâu đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) nước gạo mới vo, nước ngâm tro hoai và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp). Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải bông cotton) nhúng vào dung dịch glicerin 10- 15% cuốn vào cổ rễ để giữ ẩm.

PQ1: giống quýt mới trên đât Phủ Quỳ-Nghệ An








25/4/2007


Đó là giống quýt có nguồn gốc ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, có ký hiệu PQ1 do Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả Phủ Quỳ (Nghệ An) nghiên cứu tại vườn tập đoàn từ tháng 3/1992 và đưa vào vườn khảo nghiệm từ tháng 8/2001.


Giống quýt mới PQ1 là giống cây có năng suất chất lượng cao, có tính năng chống chịu sâu bệnh vàng lá (bệnh gây suy thoái cam, quýt phổ biến ở vùng Phủ Quỳ). Đặc biệt giống quýt PQ1 lại chín muộn, mang tính chất rải vụ, cho thu hoạch vào tháng giêng và tháng hai âm lịch nên thị trường rất ưa chuộng.

Đây là giống quýt mà Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả Phủ Quỳ dày công nghiên cứu 10 năm tại vườn tập đoàn và 5 năm ở vườn khảo nghiệm. Kết quả đến nay đã khẳng định, sau 3 năm đầu giống quýt PQ1 sinh trưởng rất tốt, chiều cao cây đạt 353,3 cm, đường kính tán 296,5 cm và đường kính gốc 8,4 cm (với mật độ trồng 1.100 cây/ha, khoảng cách 3mx3m, tỷ lệ cây sống sau trồng đạt 95,75%). Cũng sau 3 năm trồng, quýt PQ1 đã cho thu hoạch với năng suất thực thu đạt 20,53 tấn quả/ha (86% số cây cho quả), năm thứ 4 thu hoạch được 39,74 tấn/ha (100% số cây có quả). Sản phẩm giống quýt này có độ chín đồng đều cao, quả loại 1 và 2 chiếm tới 96,26%. Chất lượng quả cũng được tăng lên theo thời gian. Cụ thể năm đầu thu hoạch, bình quân mỗi quả đạt 153g, nhưng năm sau đã đạt 166g/quả. Số hạt trong mỗi quả giảm dần và hệ số sử dụng thì được tăng lên từ 69,1-72,63%.

Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với người dân là cần có một chiến lược duy trì và phát triển giống quýt này, mở rộng vùng chuyên canh. Các phương pháp về kỹ thuật công nghệ, và cần tổ chức các lớp tập huấn cho bà con nông dân để việc trồng trọt mang lại hiệu quả thiết thực nhất, các biện pháp thâm canh để đưa cây quýt thành cây ăn quả thế mạnh của vùng. Ngoài ra cần có các biện pháp tiếp thị quảng bá thương hiệu để mở rộng thị trường.

Nhân giống và chăm sóc dưa bở








22/5/2007


Dưa bở đòi hỏi sinh trưởng và tạo quả ở điều kiện khí hậu khô, ấm áp và đầy đủ ánh sáng. Biên độ nhiệt tối thích là từ 18-28oC. Ở nhiệt độ dưới 12oC, dưa bở sẽ sinh trưởng kém bà bị chết rét. Có thể trồng Dưa bở ở khu vực có độ cao 1000m so với mặt nước biển hoặc thấp hơn.

Dưa bở sinh trưởng tốt trên các loại đất có tầng mặt dày, giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt. Có độ pH 6-7. Trong quá trình sinh trưởng, Dưa bở cần tưới nước rất ít hoặc nhỏ giọt.


Nhân giống và gây trồng

Dưa bở được nhân giống chủ yếu bằng hạt. Đất cần cày bừa kĩ, làm sạch cỏ và lên luống. Cây được trồng theo khóm, mỗi khóm 2-3 hạt, sau đó phủ một lớp đất dày 2-3cm. Khi hạt nảy mầm sẽ tỉa thưa dần để lại những cây to khỏe. Dưa bở có thể được trồng theo rạch, cây cách cây 50-75cm và hàng c hàng 150-200cm. Mật độ trồng trong khoảng 10000-15000 cây/ha. Cũng có thể gieo hạt trong vườn ươm cho đến khi cây con được 4 tuần tuổi thì đưa ra trồng trên diện tích đại trà. Nếu gieo hạt trực tiếp trên đồng ruộng thì mỗi ha cần tới 1,5-2kg hạt giống nhưng nếu gieo bầu đất trước thì chỉ cần 0,5kg hạt giống cho 1ha.

Chăm sóc

Dưa bở thường được trồng trên các thửa ruộng cao sau khi đã thu hoạch lúa. Gieo trồng dưa bở luân canh vớI lúa nước thường trành được các mầm sâu bệnh và tuyến trùng gây hạI đốI vớI bầu bí. Sau khi gặt lúa, đất được cày phơi ảI, bừa kĩ, làm sạch cỏ,lên luống trước khi trồng. Tùy theo độ phì và cấu tượng của đất mà chọn lựa các biện pháp bón phân thích hợp. Để cho 20 tấn quả, dưa bở đã lấy đi trong đất một lượng chất dinh dưỡng khá lớn gồm: 60-120kg Nitơ, 20-40kg P2O5, 120-140kg K2O, 100-140kg CaO và 20-60kg MgO.

Nhu cầu về phân bón với dưa bở rất cao, lượng phân hữu cơ bón lót cần từ 20-35tấn/ha. Trong quá trình sinh trưởng việc bổ sung thêm nước phân NPK loãng là rất cần thiết.

Ngoài ra, cần sử dụng rơm rạ để phủ quanh gốc cây và tỉa thưa bớt lá và quả (mỗI cây chỉ để lài 3-5 quả) là những biện pháp cần chú ý đốI vớI ngườI trồng dưa.

Sâu bệnh

Cũng như ở nhiều loài dưa khác, héo rũ là một loại bệnh rất nguy hại do nấm Fusarium oxysporum f.sp. melonis gầy ra. Để đối phó với các loại bệnh này cần chọn những giống dưa bở có tính chống bệnh khỏe. Bệnh bột trắng Sphaerothoca fuliginae và Erysiphe cichoracearum trên dưa bở có thể phòng trừ bằng các loại thuốc diệt nấm. Ngoài ra có thể trồng một số dòng lai F1 kháng nấm. Mốc lông tơ (pseudoperonospora cubensis) là bệnh rất nguy hiểm cho dưa bở ở những vùng khí hậu nóng ẩm. Với loại bệnh này, có thể sử dụng thuốc diệt nấm để phòng trừ. Bệnh rỉ dịch nhựa trên cây do Dydimella bryoniae gây ra trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Bệnh muội than Glomerella cingulata và bệnh đốm lá do Pseodomonas syringae cũng thường xuất hiện ở nhiều khu vực.

Ngoài ra còn có vi khuẩn gây thối rễ Erwinia tracheipilia tác nhân truyền bệnh là rệp, rầy và côn trùng.

Một số loại virut gây bệnh khác như virut trên bầu bí, virut trên dưa hấu, virut trên đu đủ và virut khảm vàng cùng do bọ chét Aphis gossipii mang đến cũng gây tác hại lớn với sinh trưởng và phát triển của dưa bở.

Trên các vùng đất trồng dưa bở còn thường gặp các loại bọ trĩ, bọ vắt, bọ chét, bướm ăn quả, bọ cánh cứng, sâu ăn lá và ruồi gây hại trên quả non. Ngoài ra còn gặp tuyến trùng ở rễ.

Biện pháp phòng tích cực là chọn các giống dưa bở có tính kháng bệnh khỏe, gieo trồng luân canh với lúa nước và xử lí đất bằng thuốc diệt nấm trước khi trồng

Phương pháp nhân giống xoài bằng hạt








11/6/2007


Có rất nhiều cây xoài mọc từ hạt mà không hề thoái hoá mà chất lượng trái xoài vẫn được đảm bảo. Nhiều giống xoài của ta trong hạt có nhiều phôi - gọi là giống đa phôi. Các phôi đều mọc thành cây. Hầu hết các phôi đó đều là phôi vô tính do các tế bào phôi tâm hình thành. Các cây hình thành từ phôi vô tính đều giữ được đặc tính của cây mẹ, cũng như các cây chiết, ghép hay cây giâm hom. Duy nhất chỉ có một cây phát triển từ phôi hữu tính do quá trình thụ phấn, thụ tinh hình thành. Cây này dễ nhận biết vì nó thường là cây xấu, còi cọc nhất, để loại bỏ.

Cách nhân giống xoài bằng các cây mọc từ phôi vô tính vẫn được nhiều nước trồng nhiều xoài ưa dùng. Vì nó chẳng những không bị mất đi các đặt tính tốt của cây mẹ, mà còn bảo đảm tính đồng đều của các cây con và đặt biệt là cây sống rất lâu. Ở Bang Punjab (Ấn Độ) có cây xoài sống tới cả nghìn năm, chu vi thân của nó dài gần 13 m, độ che phủ của tán cây chiếm tới 3.000m2. Xoài có thể ghép lên các cây cùng họ như cóc (còn gọi là sấu tây), cây điều (còn gọi đào lộn hột – Anacardium xcidenta L). Cho quả to, hạt nhỏ, thịt quả ngon, nhưng cây nhỏ bé, tuổi thọ kém. Ở nhiều nước, kể cả ở ta, người ta vẫn dùng muỗm, quéo hay cây quéo rừng còn gọi mắc chai làm cây gốc ghép. Hiện tượng vết ghép không tiếp hợp cũng có thể xảy ra ở một vài nơi. Người ta cho đó là do ảnh hưởng của thời tiết hay đất đai. Cẩn thận bạn có thể làm thử trước khi ghép đại trà. Tốt hơn hết là dùng hạt của chính các giống xoài để gieo lấy cây gốc ghép. Chọn giống sinh trưởng khoẻ và đã được trồng nhiều năm ở ngay địa phương mình thì khỏi áy náy gì cả.

Việc ghép xoài cho kết quả tốt, tỷ lệ sống cao, tuỳ thuộc vào tay nghề hay sự quen làm của từng người với từng cách. Theo chúng tôi, cách ghép đơn giản nhất là ghép nêm trên cây gốc ghép non. Làm cách này, đầu tiên cũng lấy hạt còn rất mới từ các quả xoài tốt, đem rửa sạch, rồi gieo ngay. Khi cây con mọc, đem các cây con ra trồng lên luống đã làm đất kỹ, bón phân ải với mật độ 35 – 40 cm hoặc trồng vào chậu hay túi bầu có đúc đất tốt trộn phân, rồi chăm cho cây phát triển bình thường. Khi cây cao 40-50 cm lá đã chuyển từ tía sang xanh, thân cây to độ 0,5 cm thì ghép được. Hom ghép lấy từ các cành có đường kính tương đương với cây gốc ghép có tuổi trên dưới 1 năm, mọc ở đầu cành, hom cần dài 10-12 cm, hái bỏ hết lá, bỏ chúng vào các bọc vải sạch thấm ướt hay cắm ngập chân hom trong lọ nước. Lấy vừa đủ làm trong 1-2 giờ cho hom khỏi khô. Khi ghép thì vát 2 bên chân hom với độ dày khoảng 1 cm. Ở cây gốc ghép, cũng cắt bỏ ngọn ở phía trên vị trí của lá thật đầu tiên, sau đó chẻ dọc ở giữa thêm xuống khoảng 1 cm. Nêm hom ghép vào gốc ghép, cuốn băng nilon chặt kín. Sau đó, dùng túi nilon kín một đầu trùm kín hom và vết ghép, làm giàn che nắng mưa. Khi hom ghép nhú chồi thì tháo túi nilon cho chồi phát triển. Chồi lên thành cây cao 75-80cm. Lá chuyển sang màu xanh thì đem trồng được. Mùa ghép và trồng xoài nên tránh lúc quá nắng nóng hay rét, nhiều mưa.

Một vài đặc điểm của sầu riêng, chôm chôm và nhãn








9/7/2007


Lâm Đồng là tỉnh phía Nam Tây Nguyên, cao độ từ 130 mét đến 1.500 mét, từ đó đã hình thành cơ cấu cây trồng đa dạng và phong phú có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, bán ôn đới... Do đặc điểm về điều kiện đất đai, khí hậu, từ lâu 3 huyện phía Nam của tỉnh là Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên đã có những vườn cây ăn quả đem lại thu nhập hiệu quả cho người dân và diện tích này có xu hướng ngày càng phát triển. Trong những năm gần đây, nhằm đa dạng hóa sản phẩm cây trồng trên diện tích vườn hộ, diện tích cây ăn trái của tỉnh đã tăng len hàng năm mà chủ yếu là cây sầu riêng được mở rộng tại các huyện có cao độ từ 800 đến 1.000 mét như Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng và thị xã Bảo Lộc. Cây ăn quả là cây dài ngày, thời gian kiến thiết cơ bản tốn nhiều chi phí và công sức. Trước khi chọn một loại giống cây ăn quả nào để trồng cần phải biết các đặc điểm về sinh trưởng, phẩm chất và nguồn gốc chính xác của giống cây. Nhằm tránh đi những sai lầm gây thiệt hại khi bắt đầu bước vào thời kỳ thu hoạch. Sau đây là phần giới thiệu đặc điểm một số giống cây ăn quả có triển vọng:


1. Cây sầu riêng (Durio zibethinus Murr)

Giống sầu riêng tốt cần có những đặc điểm sau:

- Giống có khả năng cho năng suất cao, ổn định, kháng hoặc ít nhiễm các sâu, bệnh hại quan trọng.

- Cơm dày, vàng sáng, ráo, mịn, vị ngọt béo đặc trưng của giống.


BẢNG 1: ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ GIỐNG SẦU RIÊNG

Giống

Đặc điểm

Chôm chôm Java

Chôm chôm nhãn

Kiểu nhân giống

ghép

ghép

Tuổi vườn trung bình

15-20

8-15

Năng suất trung bình (kg/cây/năm)

300-400

200-300

Thời gian ra hoa

tháng 11 - 3 dương lịch

tháng 11 - 5 dương lịch

Trọng lượng quả (g)

32-34

20-23

Màu khi chín

đỏ vàng, sậm

vàng, vàng đỏ

Độ dày thịt (mm)

7,0 - 7,9

6,0 - 8,5

Tróc thịt

tốt

rất tốt

Cấu trúc thịt

ráo, chắc

ráo, rất dòn

Tỷ lệ thịt (%)

36-49

32-45

Độ Brix (%)

19-22

21-24

Mùi vị

ngon, ngọt

rất ngon ngọt, thơm

2.2 Giống chôm chôm nhãn

Đây là giống mới được chú ý trong thời gian gần đây, do có phẩm chất ngon, thị trường trong nước ưa chộng, giá bán cao hơn giống chôm chôm Java. Giống có đặc điểm phân cành ngắn hơn với giống chôm chôm Java, lá có kích thước nhỏ và màu xanh nhạt. Thời gian ra hoa và thu hoạch gần tương tự như giống Java, nhưng có thể kéo dài hơn do cây ra hoa ít đồng loạt. Đặc điểm dễ phân biệt của giống này là quả có kích thước trung bình, trọng lượng quả từ 20-23 g, vỏ quả màu vàng lúc vừa chín, màu vàng đỏ lúc chín, râu ngắn, vỏ dày, vỏ quả có rãnh dọc kéo dài từ đỉnh đến đáy quả, giống như 2 nửa vỏ quả ráp lại, nên còn được gọi là “chôm chôm quả ráp”, phẩm chất quả ngon, tróc rất tốt, thịt quả ráo, chắc, dòn, vị ngọt.


3. Cây nhãn (Dimocar-pus longan Lour)

3.1 Nhãn tiêu da bò (tiêu Huế, tiêu da vàng)

Có khả năng sinh trưởng mạnh, năng suất rất cao, thịt quả khá dày, ráo, dài, hạt nhỏ. Quả khi chín có màu da bò, chùm rất sai. Nhược điểm của giống này là cần phải xử lý để cây ra hoa, do đó nó cũng có ưu thế là nhà vườn có thể điều tiết thời điểm thu hoạch theo ý muốn với chu kỳ hai năm, cây có thể cho ba vụ quả.


3.2 Nhãn tiêu lá bầu

Có khả năng sinh trưởng rất mạnh, tiềm năng năng suất cao, có thể đạt 90 kg/cây/năm ở giai đoạn cây 4-5 tuổi. Chùm quả rất sai, đóng thưa vừa phải, quả có kích thước to hơn nhãn tiêu da bò, trọng lượng quả trung bình 9-14 g, vỏ quả khi còn non màu xanh, khi chín có màu vàng da bò. Thịt quả khá dày, màu trắng đục, khá ráo, dai, vị ngọt, thơm, hạt nhỏ, dài, có màu nâu đen. Tiêu lá bầu cho 3 vụ quả trong 2 năm, cây dễ ra hoa hơn nhãn tiêu da bò, thời gian từ khi ra hoa đến lúc thu hoạch từ 5-5,5 tháng.


3.3 Nhãn Super

Đây là giống được ông Nguyễn Trí Nghiệp ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long sưu tập. Cây ra hoa tự nhiên và cho 2 vụ

quả/năm. Chùm quả khá sai, đóng thưa vừa, quả khá to, trọng lượng trung bình từ 14 đến 14 g, vỏ quả khi chín có màu vàng sáng đến hơi sậm. Thịt quả rất dày, màu trắng đục, cấu trúc ráo, dòn, vị ngọt, ít hơn.


3.4 Nhãn Xuồng cơm vàng

Giống có nguồn gốc ở thành phố Vũng Tàu, được trồng bằng hạt, thịt quả dày, màu hanh vàng, ráo, dòn, rất ngọt, được thị trường ưa chuộng. Đặc điểm dễ nhận diện là quả có dạng hình xuồng. Quả chưa chín gần cuống có màu đỏ, quả chín vỏ quả có màu vàng da bò. Xuồng cơm vàng thích hợp trên vùng đất cát; nếu trồng trên đất thịt hoặc sét nhẹ nên ghép qua gốc ghép là giống tiêu da bò.


BẢNG 3: ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ GIỐNG NHÃN

Đặc điểm

Giống nhãn

Super

Tiêu da bò

Tiêu lá bầu

Xuồng cơm vàng

Tuổi cây

4

8-10

4-6

15-20

Năng suất (kg/cây/năm)

30

120-180

60-90

100-140

Số vụ thu hoạch/năm

2 vụ/năm

3 vụ/2 năm

3 vụ/2 năm

1 vụ/năm

Khả năng sinh trưởng

khá

rất mạnh

rất mạnh

khá

Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch (tháng)

4

5

5

4-4,5

Tập tính ra hoa

tự nhiên

phải xử lý

tự nhiên

tự nhiên

Khả năng đậu trái

cao

rất cao

rất cao

trung bình

Trọng lượng trái (g)

10-14

8-12

9-14

16-25

Bề dày thịt (mm)

5-8

4-5

4-5

5,5-6,2

Màu sắc thịt

trắng, hơi vàng

trắng đục

trắng đục

trắng, hơi vàng

Cấu trúc thịt

ráo, dòn

ráo, dai

ráo, ít dai

ráo, dai, dòn

Tỷ lệ thịt (%)

21-25

20-23

23-26

21-24

Mùi vị

ngọt, ít thơm

ngọt trung bình, ít thơm

rất ngọt, ít thơm

ngọt, khá thơm

Đặc điểm nhân giống và trồng vào chậu cây cúc vạn thọ lùn








14/8/2007

Cúc vạn thọ lùn (Tagetes patula Linn.) thuộc họ Cúc nguyên sản ở Mêhicô, hiện nay được trồng ở nhiều nước; cây cao 80-50cm, mọc cụm, nhiều nhánh, lá nứt sâu có răng cưa. Hoa tự dạng đầu, đường kính 4cm, hoa dạng lưỡi màu vàng, vàng da cam, hoặc vàng tím, và đỏ tím; hoa đơn tràng, hoặc trùng tràng một nửa. Cúc vạn thọ lùn ưa sáng, nhưng nửa bóng cũng có thể ra hoa, yêu cầu nước và phân vừa phải, có thể trồng trong vườn.

Nhân giống cây cúc vạn thọ lùn bằng gieo hạt và giâm cành. Gieo hạt vào mùa xuân hoặc hè sau 2 tháng hoa nở. Nếu giâm cành cần cắt cành dài 7-10cm, cắm vào đất cát để nơi khô mát, mỗi ngày phun 2-3 lần nước, khoảng 8-4 ngày có thể mọc 7-8 rễ dài 3-6cm và thành cây mới.

Có thể trồng cúc vạn 'thọ lùn vào chậu nhựa loại nhỏ, cũng có thể dùng chậu sành. Đất chậu phải có lượng phân vừa phải. Sau khi trồng vào chậu, tưới đẫm nước để nơi khô mát 3-5 ngày, rồi đưa vào nơi có ánh sáng tán xạ để chăm sóc; mùa hè che bóng. Đất chậu bảo đảm không quá khô và quá ẩm, cách 20 ngày bón phân 1 lần, dùng nước phân loãng hoặc phân hóa học. Vào mùa hoa nở không bón phân, chỉ cần tưới nước. Sau khi hoa nở cần cắt hoa tàn và cành cũ để ra cành mới, hàng tuần phải bón phân 1 lần và thường xuyên tưới nước, như vậy sẽ cho hoa lần nữa. Mùa đông cần giữ ấm để có hoa phục vụ Tết.

Cách chọn giống đu đủ cho nhiều quả








20/8/2007

Các giống đu đủ của Việt Nam hay của Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, ấn Độ... đều để giống được, với điều kiện không phải là giống lai F1. Các giống của Đài Loan có tỷ lệ cây cái cao và thường thuộc loại cây lai nhân tạo.

Cây đu đủ vốn có tính di truyền phức tạp, phấn của hoa đực và hoa lưỡng tính lại rất khác nhau, tính mẫn cảm của phấn hoa đực cao gấp nhiều lần của hạt phấn hoa lưỡng tính, do đó đu đủ rất dễ bị lai tạp, khó giữ được giống tốt thuần chủng nếu không thụ phấn bắt buộc.

Việc thụ phấn bắt buộc trước hết phải chọn cây giống khoẻ, ít sâu bệnh, cần phải chọn đúng giống, chọn những nụ hoa ra ở lứa quả đầu tiên, khi cây còn đang rất sung sức, nếu vào đúng lúc thời tiết đầu mùa hè thì càng tốt, sau này số hạt sẽ cho nhiều hơn. Dùng kim châm cho các nụ hoa nhỏ ở trong chùm hoa nhiều vết, mấy hôm sau hoa tự rụng đi, chỉ để lại một nụ hoa ở giữa to nhất, khi đầu cánh của nụ hoa bắt đầu có màu trắng thì dùng túi nilon trong, châm thật nhiều lỗ cho dễ thoát hơi nước và không khí, sau đó bao nụ hoa lại theo dõi tới khi hoa nở. Các buổi sáng tháo túi nilon ra, ngắt bao phấn thoa lên đầu nhụy hoa cái. Nếu cây giống là cây lưỡng tính, có hoa lưỡng tính thì lấy bao phấn của hạt hoa lưỡng tính. Nếu là giống chỉ có hoa cái và hoa đực riêng rẽ trên từng cây thì lấy phấn hoa đực và sau đó sẽ có 50% là hạt sẽ cho cây đực. Thụ phấn xong, bao hoa lại để tránh hoa bị thụ phấn của giống khác ngoài ý muốn. Chờ 2-3 ngày sau hoa rụng đi thì tháo túi nilon ra cho quả phát triển tự nhiên.

Muốn đu đủ cho sai quả và có quả to cần chọn chân đất tốt, ẩm và thoát nước tốt, ánh sáng đầy đủ, không bị cây khác che khuất. Chăm sóc thật tốt cho cây luôn có 50-60 lá xanh tốt trên cây.

Khi mới trồng nên đào hố sâu, rộng, bón lót từ 20-30kg phân hữu cơ mục và thêm 0,1-0,2kg lân, sang tháng thứ 2-3 thì bón thúc mỗi gốc khoảng 25-30 gam đạm và 40 gam DAP hoà tan trong nước, tưới vào dưới tán cây, cách xa gốc 20-30cm. Các tháng sau, cây to ra, hoa quả nhiều, cần tăng dần lượng phân cho tới lúc quả chín, hạn chế ở mức độ 120-150 gam urê và 140-160 gam DAP cho tới khi cây hết khả năng cho quả thương phẩm. Chú ý vào mùa lạnh cần tưới ẩm thường xuyên, kết hợp phun oxyclorua đồng. ở ấn Độ người ta còn tưới cả dung dịch này vào gốc cây, giúp cây có thêm vi lượng đồng, chống rét và bạc lá. Chú ý phòng trừ rệp hại cây.

Tạo giống hoa hồng mới








19/3/2008

Phương pháp lai hữu tính - Khử đực: Tháng 4, 5 chọn một số hoa nở ngay trên cây bố mẹ, bóc vỏ cánh hoa lần lượt từ ngoài vào trong, dùng panh gắp hết nhị đực, rồi chụp túi giấy để cách ly. Công việc này nên làm vào 4-5 giờ chiều và không muộn quá 8 giờ sáng hôm sau.


Thụ phấn hoa: Chọn những bông hôm sau nở trên cây bố, bóc cánh hoa dùng panh gắp lấy túi phấn bỏ vào đĩa, đánh dấu tên giống bố, đặt ở nơi khô ráo, thoáng gió, tránh phơi ra nắng. Sau khi khô, túi phấn vỡ tung phấn ra.
- Thụ phấn: Hoa cái trên cây mẹ sau khi khử đực, sáng hôm sau từ 8-10 giờ có thể thụ phấn. Dùng bút lông chấm lấy phấn hoa trong đĩa bôi nhẹ lên đầu vòi nhụy, hoặc trực tiếp dùng hoa đực rũ phấn lên vòi nhụy hoa cái, nên làm lại vài lần để thụ phấn cho chắc.

- Chăm sóc sau thụ phấn: Sau khi thụ phấn có kết quả, rút bỏ túi bao, tăng cường chăm bón cho cây mẹ, bón thêm kali, khống chế không cho ra lộc mới và các cành ở gốc, ngắt bỏ các hoa, nụ còn lại để tập trung dinh dưỡng nuôi quả và phòng chống sâu bệnh hại. Khi quả chuyển màu đỏ là thu hái được.

- Xử lý hạt: Tách vỏ quả chín lấy hạt, dùng nước lọc bỏ hạt lép. Chọn những hạt đẫy trộn với cát bảo quản trong tủ lạnh 0- 5oC. Ít nhất 2-3 tháng mới nảy mầm. Có thể dùng acid chlohydric (HCl) xử lý phá ngủ.

- Bồi dục cây con: Sau khi hạt nứt vỏ, nhú mầm, ươm cây con vào giàn hoặc đĩa ươm cây. Khi cây con cao 20cm, hoá gỗ mới đem trồng ra ngoài ruộng.

- Sơ tuyển: Sau khi trồng 3-5 tháng cây mọc được 5-7 lá thật, có nụ và hoa, có thể sơ tuyển. Chọn cây sinh trưởng khoẻ, ra hoa liên tục, nhiều hoa, màu sắc tươi, dáng đẹp, cánh hoa từ 10-25 cái, cành có độ dài vừa phải, cứng, thẳng, gai ít, lá hình dáng đẹp, nhẵn, kháng chịu bệnh cao.

- Chọn lai: Cây con phải chọn nhiều lần. Cây chọn được lần đầu mang ghép hoặc giâm cành để nhân ra 6-7 cây. Năm thứ 3 ghép những cây đã chọn được ở năm thứ 2 để nhân ra 70-90 cây. Năm thứ 4 nhân ra 1.000 cây, tiến hành bình chọn năng suất, chất lượng hoa và tính chống chịu.

Phương pháp chọn giống biến dị chồi

Phương pháp này là bồi dục giống từ các chồi đột biến tự nhiên hoặc nhân tạo, các giống được tạo ra theo cách này có rất nhiều tính trạng giống mẹ, nó giữ được phần lớn ưu điểm của cây gốc và cải thiện khuyết điểm. Phương pháp này rất đơn giản, dễ làm.

Biến dị chồi tự nhiên là sự tạo thành những tính trạng thay đổi do sự đột biến gen trong điều kiện tự nhiên. Đột biến nhân tạo là dùng tác nhân dẫn đến đột biến để xử lý cây, nhằm tăng tần xuất biến dị nên sử dụng chiếu xạ.
Tạo giống bằng kỹ thuật mới

Công nghệ mới ở đây chủ yếu là dùng công nghệ gen để tạo ra giống mới. Phương pháp này đòi hỏi trang thiết bị phức tạp, đắt tiền, kỹ thuật cao mà chỉ có ở một số nước tiến tiến hay những cơ sở đầu tư trang thiết bị hiện đại mới có điều kiện áp dụng.

Nhân giống Hoa huệ Hà Lan








20/3/2008

Mô tả - Ðặc tính:

Nhiệt độ: Mặc dù cây vùng ôn đới, nhưng cũng chịu được nhiệt độ cao 18 - 34oC.
Ẩm độ : Trong mùa tăng trưởng cần nhiều ẩm ướt và bắt đầu bớt tưới nước khi thấy lá vàng, lúc này củ đã già sắp chuyển qua trổ hoa. Nước có độ pH = 6 - 7.

Sâu rầy : Ít bị sâu rầy phá hại, tuy nhiên đề phòng rệp và nhện trắng đóng ở mặt dưới lá.

Nhân giống
Bằng cách tách các chồi non từ củ của cây mẹ. Thận trọng không cho đứt rễ và trồng ra líp sau vụ Tết. Trồng đến năm sau củ có thể to bằng cái chén ăn cơm với đường kính khoảng 10 - 12 cm.
Có thể thụ phấn nhân tạo. Lấy hạt già gieo ươm, thời gian chăm trồng lâu hơn (2, 3 năm) nên chỉ áp dụng khi lai tạo giống mới.

Thúc trổ hoa vào dịp tết âm lịch
Sẽ theo các bước sau đây :
1. Bón thúc phân đầy đủ nhất là phân lân vào mùa xuân và tháng 5, 6, 7, 8 để củ phát triển thật to.
2. Tháng 9, tháng 10 bớt tưới để cho đất hơi khô.
3. Giữa tháng 10, nhổ củ lên và để trong mát khô ráo cho củ và lá héo đi.
4. Vào đầu tháng 11, cắt bỏ rễ và bỏ lá cho đến gần mặt trên của củ. Khi tỉa lá rồi củ có hình chóp nón.
5. Đưa trồng củ đã cắt tỉa rồi vào chậu trong đó đất phân đã được chuẩn bị đầy đủ. Tưới nước đậm.
6. Để chậu vào chỗ khô mát, khi thấy nhú chồi lá hoặc chồi hoa, đưa để ra nắng (khoảng 15 ngày sau khi trồng lại) lúc đầu tươi ít cho đến khi thấy chồi hoa mới tưới trở lại bình thường.
7. Hoa sẽ nở vào dịp Tết nguyên đán.

Ghi chú :
Ở Âu châu, khi thúc ép, thường hay lấy một tờ báo che kín, chồi hoa sẽ mọc và đâm thủng tờ báo. Khi đó bỏ tờ báo đi .

Nhân giống Hoa huệ Hà Lan

Mô tả - Ðặc tính:

Nhiệt độ: Mặc dù cây vùng ôn đới, nhưng cũng chịu được nhiệt độ cao 18 - 34oC.
Ẩm độ : Trong mùa tăng trưởng cần nhiều ẩm ướt và bắt đầu bớt tưới nước khi thấy lá vàng, lúc này củ đã già sắp chuyển qua trổ hoa. Nước có độ pH = 6 - 7.

Sâu rầy : Ít bị sâu rầy phá hại, tuy nhiên đề phòng rệp và nhện trắng đóng ở mặt dưới lá.

Nhân giống
Bằng cách tách các chồi non từ củ của cây mẹ. Thận trọng không cho đứt rễ và trồng ra líp sau vụ Tết. Trồng đến năm sau củ có thể to bằng cái chén ăn cơm với đường kính khoảng 10 - 12 cm.
Có thể thụ phấn nhân tạo. Lấy hạt già gieo ươm, thời gian chăm trồng lâu hơn (2, 3 năm) nên chỉ áp dụng khi lai tạo giống mới.

Thúc trổ hoa vào dịp tết âm lịch
Sẽ theo các bước sau đây :
1. Bón thúc phân đầy đủ nhất là phân lân vào mùa xuân và tháng 5, 6, 7, 8 để củ phát triển thật to.
2. Tháng 9, tháng 10 bớt tưới để cho đất hơi khô.
3. Giữa tháng 10, nhổ củ lên và để trong mát khô ráo cho củ và lá héo đi.
4. Vào đầu tháng 11, cắt bỏ rễ và bỏ lá cho đến gần mặt trên của củ. Khi tỉa lá rồi củ có hình chóp nón.
5. Đưa trồng củ đã cắt tỉa rồi vào chậu trong đó đất phân đã được chuẩn bị đầy đủ. Tưới nước đậm.
6. Để chậu vào chỗ khô mát, khi thấy nhú chồi lá hoặc chồi hoa, đưa để ra nắng (khoảng 15 ngày sau khi trồng lại) lúc đầu tươi ít cho đến khi thấy chồi hoa mới tưới trở lại bình thường.
7. Hoa sẽ nở vào dịp Tết nguyên đán.

Ghi chú :
Ở Âu châu, khi thúc ép, thường hay lấy một tờ báo che kín, chồi hoa sẽ mọc và đâm thủng tờ báo. Khi đó bỏ tờ báo đi .

Cà tím – Cây “xóa nghèo” ở Cát Tiên

Với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa mang lại hiệu quả kinh tế cao, năm nay, huyện Cát Tiên đã mạnh dạn đầu tư triển khai cho các hộ nông dân xây dựng thí điểm mô hình cây cà tím trên địa bàn huyện.

Theo đó, lần đầu tiên tại Cát Tiên đã có 44 hộ dân ở xã Phù Mỹ, Đức Phổ và thị trấn Đồng Nai triển khai trồng giống cà tím CE 1 của Nhật Bản trên diện tích gần 5 ha.

Đến thăm vườn cà tím đang vào mùa thu hoạch của hộ gia đình ông Nguyễn Năm ở thôn I, xã Phù Mỹ, huyện Cát Tiên, được biết, thời gian cho thu hoạch của giống cà tím Nhật Bản này chỉ khoảng từ 60-65 ngày, rất sai quả (cứ 2 ngày cho thu hoạch 1 lần) và sản lượng bình quân ước đạt từ 2,5-3 tấn/sào. Riêng cà tím loại I hiện nay được thu mua tại vườn với giá khá hấp dẫn: 8.100 đồng/kg đã khiến ông Năm và nhiều hộ nông dân ở đây tỏ ra rất phấn khởi.

Theo anh Thiều Quốc Tuấn - Chuyên viên của Trung tâm Nông nghiệp huyện Cát Tiên, điểm khác biệt ở giống cà này là lớp vỏ ngoài rất mỏng, lượng tinh bột cao hơn nhiều so với các giống cà bình thường và rất thơm ngon. Quả cà có trọng lượng từ 20-35 gram và chiều dài từ 5,5-6 cm mới được xem là đạt tiêu chuẩn và được thu mua với giá tương đối cao. Có được kết quả bước đầu đáng phấn khởi này, ngoài quyết tâm cao của lãnh đạo UBND huyện Cát Tiên trong việc tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, lãnh đạo địa phương còn chủ động tìm đầu ra cho sản phẩm cà tím thông qua việc phối hợp với Công ty Phát triển kinh tế Duyên hải (TP. Hồ Chí Minh) để công ty này thu mua và bao tiêu toàn bộä sản phẩm cho nông dân. Vì thế, hiện nay đầu ra của sản phẩm này là khá ổn định so với một số cây trồng khá tại địa phương.

Có thể nói, cây cà tím lần đầu tiên có mặt tại Cát Tiên được xem là một trong những bước đột phá quan trọng trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn tại vùng đất này. Nó không chỉ góp phần làm thay đổi nhận thức, tư duy của một bộ phận nông dân địa phương mà còn giúp họ vươn lên thoát nghèo ngay trên chính mảnh đất của mình.

Sản xuất giống khoai tây sạch bệnh

Anh Nguyễn Quang Thạch và cộng sự thuộc Viện Sinh học nông nghiệp (Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã nghiên cứu hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống khoai tây sạch bệnh bắt nguồn từ nuôi cấy mô ứng dụng nuôi trồng ở miền bắc.

Các nhà khoa học đã phối hợp biện pháp xử lý nhiệt và nuôi cấy meristem thích hợp cho việc tẩy sạch bệnh vi-rút cho cây, biện pháp lục và xác định vật liệu đóng gói thích hợp trong bảo quản củ invitro, tạo cây nuôi cấy mô có diện tích lá lớn, sức sinh trưởng mạnh, thuận lợi cho việc ra cây và tạo củ invitro. Lần đầu ở nước ta đã hình thành hệ thống sản xuất khoai tây giống chất lượng cao ở quy mô lớn.

Ưu điểm của công nghệ nói trên là giá thành củ giống sản xuất trong nước chỉ bằng một nửa giá nhập khẩu, đạt tiêu chuẩn trong nước.

Giống cà chua thích hợp vùng đất mặn

Mới đây, các nhà khoa học Italia đã lai tạo thành công loại cà chua anh đào (cherry tomatoes) có thể phát triển được ở nước mặn.

Chuyên gia Cristina Sgherri và các đồng nghiệp ở Trường đại học Pisa đã trồng cà chua tưới bằng nước thường (nước ngọt) và tưới bằng nước biển pha với tỷ lệ là 12%. Kết quả cho thấy, cà chua nước biển bình quân nhỏ hơn khoảng 60% so với chà chua được tưới bằng nước thường. Tuy nhiên, chúng lại có hương vị ngon hơn, quả có chứa nồng độ axít cao hơn đồng thời có tỷ lệ đường cao hơn.

Ngoài ra, cà chua tưới nước biển cũng chứa nhiều thành phần chống oxi hoá nhiều hơn, bao gồm cả vitamin C, E và axít chlorogenic. Các nhà khoa học cho rằng, loại cà chua nước biển này rất hữu ích đối với những vùng duyên hải, nơi mà nước ngọt thì ít nước biển thì nhiều. Mặc dù năng suất không cao bằng trồng nước ngọt nhưng giá bán cao hơn sẽ bù đắp lại được.

Nhân rộng giống cà chua lai HT144

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Bắc Giang vừa triển khai dự án "Xây dựng mô hình và phát triển sản xuất cà chua bằng giống lai HT144" với quy mô diện tích 10 ha tại các huyện Lục Nam, Lạng Giang và thành phố Bắc Giang.

Đây là giống cà chua lai có nhiều ưu điểm vượt trội như sinh trưởng khỏe, ngắn ngày, ít sâu bệnh, có khả năng chịu nóng cao, quả chín đồng đều, thu hoạch tập trung và cho thu hái kéo dài, chất lượng tốt; năng suất đạt từ 45-50 tấn/ha, cao hơn khoảng 10 tấn/ha so với các giống cũ ở địa phương, giống cà chua HT144 cho thu nhập từ 140-150 triệu đồng/ha, cao hơn nhiều so với trồng lúa và một số cây lương thực, cây màu khác.

Được biết, đây là giống cà chua do Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội chọn tạo theo phương pháp tạo giống ưu thế lai nên chủ động được nguồn giống và giá thành rẻ bằng một nửa so với các giống cà chua nhập ngoại khác.

Công ty TNHH Việt Nga (thành phố Bắc Giang) ký hợp đồng thu mua lâu dài toàn bộ sản phẩm để chế biến xuất khẩu cũng như phục vụ thị trường trong nước.

Xây dựng cơ sở nhân giống cây trồng bằng nuôi cấy mô tế bào ở Thái Nguyên

Nhằm đẩy mạnh việc phát triển ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp, Sở khoa học - công nghệ tỉnh Thái Nguyên hiện đang tập trung triển khai Dự án đầu tư xây dựng cơ sở công nghệ nhân giống cây trồng bằng nuôi cấy mô tế bào với tổng kinh phí thực hiện hơn 4 tỷ đồng.

Việc ứng dụng công nghệ nhân giống gây trồng bằng nuôi cấy mô tế bào không chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp số lượng lớn các loại giống cây trồng mới sạch bệnh, năng suất cao, phẩm chất tốt trong thời gian nhanh nhất mà còn góp phần quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học tại Thái Nguyên và các tỉnh lân cận.
Theo dự án phê duyệt, cơ sở nhân giống cây trồng bằng nuôi cấy mô tế bào được xây dựng tại Xưởng công nghệ sinh học - Trung tâm Ứng dụng tiến bộ và khoa học công nghệ Thái Nguyên với hệ thống nhà xưởng hoàn chỉnh gồm: phòng quản lý, điều hành, khu thí nghiệm, khu nhà lưới... Đa số các thiết bị phục vụ cho việc nuôi cấy mô đều được nhập từ các quốc gia tiên tiến về công nghệ sinh học như: Nhật Bản, Đức, Italia, Hàn Quốc... Cùng với việc khẩn trương xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc, từ nay đến cuối năm 2010 các nhà khoa học cũng tiến hành đào tạo, chuyển giao công nghệ, tập huấn kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Trung tâm ứng dụng tiến bộ và khoa học công nghệ Thái Nguyên để sản xuất thử nghiệm một số giống hoa (đồng tiền, cẩm chướng, phong lan), cây lâm nghiệp (keo lai, bạch đàn), khoai tây, chuối... Sau giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất và sản xuất thử nghiệm từ năm 2010 đến 2011, dự kiến trong các năm tiếp theo cơ sở này có thể sản xuất 1 triệu cây giống/năm.

Xây dựng cơ sở nhân giống cây trồng bằng nuôi cấy mô tế bào ở Thái Nguyên

Nhằm đẩy mạnh việc phát triển ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp, Sở khoa học - công nghệ tỉnh Thái Nguyên hiện đang tập trung triển khai Dự án đầu tư xây dựng cơ sở công nghệ nhân giống cây trồng bằng nuôi cấy mô tế bào với tổng kinh phí thực hiện hơn 4 tỷ đồng.


Việc ứng dụng công nghệ nhân giống gây trồng bằng nuôi cấy mô tế bào không chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp số lượng lớn các loại giống cây trồng mới sạch bệnh, năng suất cao, phẩm chất tốt trong thời gian nhanh nhất mà còn góp phần quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học tại Thái Nguyên và các tỉnh lân cận.
Theo dự án phê duyệt, cơ sở nhân giống cây trồng bằng nuôi cấy mô tế bào được xây dựng tại Xưởng công nghệ sinh học - Trung tâm Ứng dụng tiến bộ và khoa học công nghệ Thái Nguyên với hệ thống nhà xưởng hoàn chỉnh gồm: phòng quản lý, điều hành, khu thí nghiệm, khu nhà lưới... Đa số các thiết bị phục vụ cho việc nuôi cấy mô đều được nhập từ các quốc gia tiên tiến về công nghệ sinh học như: Nhật Bản, Đức, Italia, Hàn Quốc... Cùng với việc khẩn trương xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc, từ nay đến cuối năm 2010 các nhà khoa học cũng tiến hành đào tạo, chuyển giao công nghệ, tập huấn kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Trung tâm ứng dụng tiến bộ và khoa học công nghệ Thái Nguyên để sản xuất thử nghiệm một số giống hoa (đồng tiền, cẩm chướng, phong lan), cây lâm nghiệp (keo lai, bạch đàn), khoai tây, chuối... Sau giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất và sản xuất thử nghiệm từ năm 2010 đến 2011, dự kiến trong các năm tiếp theo cơ sở này có thể sản xuất 1 triệu cây giống/năm.

Cà chua DT 28 được công nhận giống quốc gia








12/4/2010

Vừa qua, Hội đồng Khoa học Công nghệ đã đề nghị Bộ trưởng Bộ NN-PTNT xem xét và ra quyết định công nhận giống cây trồng mới đạt chuẩn quốc gia và cho phép đưa vào sản xuất đại trà kể từ vụ xuân hè năm 2010 cho giống cà chua DT 28 do Trung tâm thực nghiệm sinh học nông nghiệp công nghệ cao (Viện Di truyền Nông nghiệp) nghiên cứu, chọn tạo.

DT 28 là giống cà chua bán hữu hạn, thời gian sinh trưởng 130-145 ngày, thích hợp cho các vụ đông sớm (gieo hạt 15/8-5/9), chính vụ (gieo hạt 5/9-15/10) và xuân hè (gieo 15/1) cho năng suất từ 45 đến 60 tấn/ha; đặc biệt rất thích hợp với vụ đông trên chân đất 2 lúa ở các tỉnh phía Bắc. Dạng quả của DT 28 đẹp, vai trắng, khi chín có màu đỏ tươi hấp dẫn, chất lượng tốt, nhiều bột, thịt ngọt; vỏ cứng, thời gian bảo quản dài, phù hợp thị hiếu ăn tươi và chế biến. Giống DT 28 có khả năng chống chịu khá tốt với các bệnh sương mai, héo xanh, héo rũ…
Đến nay Viện Di truyền NN đã hoàn thiện qui trình kỹ thuật canh tác đồng thời sản xuất thành công hạt giống siêu nguyên chủng với giá thành hạ sẵn sàng cung cấp và chuyển giao công nghệ cho bà con nông dân và các địa phương.