Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

Dùng phương pháp gây đột biến để tăng năng suất đậu tương DT96















6/5/2008


Nhóm các nhà khoa học Trường Đại học Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu thành công trong việc tạo ra nguồn biến dị hình thái trên giống đậu tương DT96, bằng xử lý tia gamma. Đây là các biến dị rất có lợi mà các nhà chọn giống mong muốn, nhằm nâng cao năng suất cây trồng trong thời gian tới.


Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên giống đậu tương DT96, do Trung tâm Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cung cấp làm mẫu gieo trồng. Sau khi xử lý tia gamma ở các liều khác nhau, bộ máy di truyền của giống đậu tương DT96 có sự biến đổi. Hầu hết các biến dị có sức sống bình thường, cá biệt xuất hiện một số biến dị có đặc trưng nông sinh học cao hơn đối chứng như thấp cây, số lượng quả cao hơn.

Kết quả so sánh với đối chứng cho thấy, chiều cao của các cây có biến dị ưu tú thấp hơn đối chứng khoảng 15 - 20% (đây là đặc trưng có lợi về mặt canh tác). Các đặc trưng về nông học như số đốt, số cành, tỷ lệ hạt vượt trội so với đối chứng. Các biến dị này thể hiện những đặc tính quý theo hướng cải thiện năng suất.

TS. Nguyễn Văn Vinh, Trưởng phòng Khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế Trường Đại học Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh cho biết: các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn trên các giống đậu tương khác nhau ở điều kiện canh tác khác nhau, nhằm cải tiến năng suất đậu tương bằng phương pháp gây đột biến.

Chế tạo thành công máy bốc mía








7/5/2008


Ngày 21/4, Nhà máy đường Phổ Phong thuộc Công ty cổ phần đường Quảng Ngãi đã đưa vào vận hành thành công máy bốc mía do nhóm kỹ sư trẻ của nhà máy chế tạo


Máy bốc mía gồm hệ thống cần bốc, dùng thủy lực để gắp vào mâm bỏ mía lên thùng xe với công suất mỗi lần bốc từ 300-500kg mía. Máy có giá khoảng 50 triệu đồng.

Theo tính toán, mỗi xe chở 15 tấn mía thì máy bốc chỉ mất gần 1 giờ đồng hồ, tiêu tốn 65.000 đồng nhiên liệu trong khi đó bốc mía thủ công cần từ 10-15 thanh niên, mất từ 4-5 giờ, chi phí công lao động là 375.000đồng. Mặt khác, máy bốc mía có thể bốc cùng một lúc 4 xe.

Được biết, trước đó, nhóm kỹ sư nhà máy đường Phổ Phong cũng đã chế tạo thành công máy trồng mía hai hàng.

Quy trình sản xuất rau ăn lá an toàn, chất lượng cao








9/6/2008


Hội đồng Khoa học Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và PTNT) vừa nghiệm thu và cho phép áp dụng vào sản xuất đề tài nghiên cứu sản xuất rau ăn lá (cải xanh, cải ngọt) an toàn, chất lượng cao của Viện Bảo vệ thực vật.


Chọn và làm đất: chọn đất thịt nhẹ, đất thịt pha cát, đất phù sa ven sông có độ pH từ 5,5 đến 6,8; đất giữ được độ ẩm, thoát nước tốt, không bị nhiễm kim loại nặng như chì, thủy ngân, asen. Làm đất tơi xốp, phơi ải. Lên luống đủ cao để thoát nước tốt. Trước khi trồng lứa khác cần xử lý đất để hạn chế sâu bệnh bằng cách rắc vôi bột (300 kg/ha).

Thời vụ: Thích hợp nhất là vụ đông xuân. Với vụ hè và hè thu nên làm lưới để che nắng và mưa lớn.

Phân bón: Lượng phân bón lót cho 1ha gồm 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục, 140 – 150 kg supe lân, 50 – 60 kg kali. Bón thúc 55 – 60 kg đạm urê hoặc 2 - 3 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh. Ngừng bón phân trước khi thu hoạch 10 - 12 ngày.

Trồng và chăm sóc: Chỉ sử dụng các giống khỏe mạnh, có độ nảy mầm cao. Cải xanh, cải ngọt có thể gieo trực tiếp; cải làn, cải bẹ, cải chíp nên gieo thành cây con rồi nhổ trồng. Trồng với khoảng cách:10 x 10 – 12 cm (cải xanh), 10 x 20 cm (cải ngọt). Sử dụng nguồn nước tưới sạch, tưới đủ ẩm, không để đọng nước.

Có thể trồng xen cải xanh, cải ngọt với các cây trồng khác như thìa là, cà chua.

Phòng trừ sâu hại:

Bẫy cây trồng: Trồng xen cây trồng khác không thu hoạch trên diện tích nhỏ để tập trung phun thuốc như cải dại, cải mù tạt. Khi thu hoạch để lại từng đám nhỏ (khoảng 1 m2) dẫn dụ bọ nhảy rồi phun thuốc tiêu diệt.

Giống: Sử dụng giống có khả năng chống chịu bệnh.

Biện pháp thủ công: Ngắt ổ trứng chưa hoặc mới nở của sâu khoang, sâu róm. Sử dụng bẫy dính màu vàng, bẫy Pheromone để dẫn dụ và tiêu diệt sâu bọ.

Biện pháp sinh học: Bảo vệ thiên địch của sâu hại rau, điển hình như ong ký sinh sâu tơ, dòi ăn rệp, bọ cánh cứng, cánh ngắn… Sử dụng thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học và thảo mộc ở thời kỳ đầu như Azadirachtin 9, Retonone…

Biện pháp hóa học: Xử lý cây con, hạt giống trước khi gieo trồng để hạn chế sâu bệnh (Oxolinic acid + metalaxyl + Fipronil + phụ gia hoặc nhúng phần thân lá cây con trong dung dịch Bt + Fipronil trong 5 giây, để khô trước khi trồng). Tăng cường sử dụng các loại thuốc sinh học, thảo mộc. Sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng và tuân thủ thời gian cách ly.

Xuất khẩu dây chuyền chế biến tinh bột sắn sang Lào








24/4/2009

Viện Nghiên cứu thiết chế tạo máy nông nghiệp (RIAM) trực thuộc Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam vừa ký hợp đồng kinh tế cung cấp cho công ty BMC Lào Viên (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) một dây chuyền chế biến tinh bột sắn với công suất 100 tấn sản phẩm/ngày sau khi vượt qua nhiều nhà cung cấp lớn đến từ 2 nước Trung Quốc và Thái Lan trong một cuộc đấu thầu quốc tế.

Thạc sỹ Trần Đức Trung, Phó Viện trưởng RIAM cho biết: đây không chỉ là một hợp đồng thương mại đơn thuần mà còn thể hiện sự hợp tác toàn diện với các bạn Lào trong chiến lược xuất khẩu thiết bị máy móc, công nghệ của Viện. Hầu hết các công đoạn trong dự án của công ty BMC Lào Viên được các chuyên gia và kỹ thuật viên của RIAM giúp đỡ tận tình, khép kín từ khâu tư vấn khảo sát, xây dựng vùng nguyên liệu, thiết kế mặt bằng, chế tạo và lắp đặt toàn bộ dây chuyền thiết bị tại chân công trình cho đến tổ chức đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật và chuyển giao công nghệ theo phương thức chìa khóa trao tay.

Dự kiến đầu tháng 5 tới những lô hàng đầu tiên sẽ được vận chuyển để lắp đặt. Dây chuyền sẽ được triển khai chạy thử và bàn giao công trình cho phía bạn vào tháng 10 tới khi bắt đầu vào vụ thu hoạch sắn của địa phương.

Được biết, một công ty khác của Việt Nam cũng đã có sự hợp tác liên doanh với công ty BMC Lào Viên xây dựng vùng nguyên liệu sẵn sàng đón nhận dây chuyền chế biến của RIAM bằng cách cử cán bộ kỹ thuật sang giúp khảo sát, hướng dẫn nông dân trồng sắn theo qui trình tiên tiến của Việt Nam, đồng thời cung cấp giống sắn KM 94 là giống sắn cho năng suất cao, chất lượng tốt, tỷ lệ thu hồi tinh bột cao nhất của nước ta cho phía bạn.

Kỹ thuật trồng tre măng Điêm Trúc








24/4/2009

Điềm trúc là loài tre lấy măng được nhập từ Trung Quốc, thân cây tương đối to, lá bản rộng và màu xanh đẹp có thể khai thác lá để xuất khẩu. Năng suất măng cao nếu thâm canh có thể đạt 50-70 tấn măng tươi/ha, củ măng to đường kính gốc có thể đạt đến 20 - 30 cm và nặng 3 - 5 kg mỗi củ, chất lượng măng cao, ăn giòn ngọt. Cây sinh trưởng nhanh, ra măng khoẻ chóng thành bụi. Có thể nhân giống bằng hom.

I/ Giá trị kinh tế
Mấy năm gần đây một số đơn vị đã nhập nhiều giống tre chuyên lấy măng từ Đài Loan và Trung Quốc. Đây là các giống đã được chọn lọc theo hướng chuyên sản xuất măng hoặc kết hợp măng với lấy các sản phẩm khác.
Măng tre dùng làm thực phẩm, là loại rau sạch được sử dụng nhiều trong nước và xuất khẩu. Thân tre làm nguyên liệu giấy, sản xuất chiếu trúc và làm hàng thủ công mỹ nghệ. Lá tre thu hái để xuất khẩu.
Măng tre điềm Trúc có thể dùng ăn tươi và chế biến ra nhiều loại sản phẩm khác như măng hộp, măng chua, măng khô, măng lát, măng sợi...
II/Điều kiện nơi trồng
1. Chọn vùng trồng.
Nhìn chung, tre măng điềm Trúc thích hợp với vùng khí hậu nóng và ẩm, có lượng mưa lớn và có lượng ánh sáng dồi dào, nơi có độ cao dưới 500 m so với mặt biển. Những vùng chịu ảnh hưởng của gió Lào cần hết sức chú ý trong việc chọn thời vụ trồng, tránh những ngày có gió khô nóng và cần có biện pháp tưới nước giữ ẩm cho cây trồng. Đối với vùng núi cao cần phải tham khảo kỹ để lựa chọn loài tre măng có khả năng phân bố ở độ cao lớn như loài Mao Trúc.
Tre măng điềm Trúc là loài cây ưa sáng hoàn toàn vì vậy không được trồng dưới tán các cây khác, khi trồng rừng tập trung nếu cần trồng hỗn giao với cây gỗ thì nên trồng theo phương pháp hỗn giao với băng rộng để đảm bảo độ chiếu sáng cho tre.
2. Chọn đất trồng.
Các loài tre lấy măng đều thích hợp với các loại đất tầng dày, tơi xốp nhiều mùn, đất ẩm nhưng thoát nước. Tốt nhất là các loại đất phù sa ven sông suối, đất trên nương rẫy còn tính chất đất rừng. Không được trồng tre điềm Trúc ở đất bị ngập úng dài ngày, đất quá bí chặt, đất bị đá ong hoá tầng mỏng và đất cát khô rời rạc.
Trường hợp nơi đồi trọc đất nghèo xấu, nhiều sỏi đá cần áp dụng các biện pháp cải tạo đất như đào hố to rộng, bón nhiều phân hữu cơ, che tủ đất bằng rơm rạ, tưới nước, trồng xen cây cố định đạm...
III/ Kỹ thuật chọn cây giống và nhân giống
1.Chọn cây giống
Nếu cây giống tre được nhân bằng hom gốc thì chọn những gốc bánh tẻ khoảng 1 năm tuổi, không lấy gốc quá non nhưng cũng không nên lấy gốc quá già. Chiều cao của gốc khoảng 1,2 - 1,5m. Phần củ gốc còn nguyên vẹn, không bị dập nát xây xước.
Nếu cây giống được nhân từ hom cành thì cần chọn những cây đã được nuôi trong vườn ươm 4 - 6 tháng và phải có bộ rễ thứ cấp, đã toả lá xanh mượt từ chồi nách của cành. Nếu đã mọc chồi măng đầu tiên thì càng tốt (thường to bằng chiếc đũa và cao khoảng 10 cm)
Nếu cây giống được nhân bằng hom củ thì chọn những củ gốc to (trọng lượng khoảng 1 kg , chiều cao từ 17 cm), có ít nhất 2 chồi mầm không bị dập nát, không bị thối. Chồi mầm to mập, sáng bóng, có sức sống. Chú ý không nên chọn những củ già quá khả năng mọc mầm sẽ kém.
2. Nhân giống.
Điềm Trúc là loài tre thân mọc cụm nên có thể nhân giống bằng hom gốc hoặc hom cành. Ngoài ra ở Trung Quốc còn nhân giống bằng củ (thực chất là củ măng), hiện nay ở Việt Nam chưa thử nghiệm cách nhân giống này.
Việc nhân giống bằng hom gốc là đơn giản nhất, chỉ cần chọn cây tre bánh tẻ (1 năm tuổi) vào vụ xuân tách khỏi bụi tre đem trồng. Khi tách cây giống cần đào cẩn thận để gốc tre không bị dập xước, các chồi mắt còn nguyên vẹn. Cưa ở vị trí khoảng 1,2 -1,5 m tính từ mặt đất lên để lấy đoạn gốc, còn đoạn ngọn loại bỏ dùng vào việc khác.
Việc nhân giống bằng chiết hom cành phức tạp hơn đòi hỏi phải có kinh nghiệm. Trên cây mẹ bánh tẻ chọn cành chét bánh tẻ cắt ngọn để lại 2-3 đoạn, sau đó cưa ở vị trí sát gốc cành chét sâu khoảng 2/3 đường kính, dùng giá thể đã trộn sẵn (gồm rơm băm hoặc sơ dừa + đất + chất kích thích ra rễ) đủ ẩm bó vào gốc cành chét, rồi quấn nilon chặt lại.
Sau 15-30 ngày kiểm tra thấy cành nào ra rễ thì cắt xuống đưa vào bầu đất (gồm 90% đất thịt + 9% phân chuồng hoai + 1% Supe lân).
Đặt bầu thành luống tưới ẩm thường xuyên. Nuôi bầu 4 - 6 tháng, khi cây đủ lá và rễ thứ cấp thì đem trồng.
IV/ Kỹ thuật trồng.
1. Thời vụ trồng.
Đối với tre trúc nói chung, việc trồng đúng thời vụ sẽ quyết định tỷ lệ sống do tre trúc có hiện tượng ra măng, trong giai đoạn ra măng cây yêu cầu rất nhiều nước. Cho nên phải trồng tre trước khi cây mọc măng. Các tỉnh phía Bắc thời vụ trồng tre măng vào tháng 2 tháng 3 dương lịch, chọn những ngày râm mát có mưa để trồng tre. Các tỉnh phía Nam tiến hành trồng tre vào mùa mưa.
2. Chuẩn bị đất trước khi trồng.
Nơi đất nghèo dinh dưỡng nên trồng cây họ đậu trước một năm để cải tạo đất, sau khi thu hoạch quả, hạt cần vùi lấp toàn bộ thân cành lá của cây họ đậu để làm tốt đất.
Trồng tre măng trên đồi dốc có thể dùng biện pháp đào rãnh ngắn theo đường đồng mức bố trí so le hình nanh sấu để vừa chống xói mòn vừa tạo khoảng đất tơi xốp rộng hơn cho tre măng.
Trường hợp không có điều kiện đào rãnh thì tiến hành đào hố có kích thước 60cm x 60cm x 60cm. Dưới đáy rãnh hoặc hố đã đào nếu có điều kiện thì trước một năm đổ các phế thải cây trồng như bã mía, lá cây, rơm rạ, vỏ lạc... rồi lấp đất để cho hoai mục làm đất tơi xốp giầu mùn. Trước khi trồng cần bón lót mỗi hố tối thiểu 10 - 15 kg phân chuồng hoai trộn lẫn với 0,1 kg Supe lân (chú ý tuyệt đối không được bón phân tươi vì dễ gây sâu bệnh cho cây và quá trình phân huỷ phân tươi sinh nhiệt ảnh hưởng đến bộ rễ làm chết cây trồng).
3. Cách trồng.
Mật độ trồng đối với tre măng khoảng 400 - 500 cây trên một hecta là vừa, bố trí theo cự ly 5 m x 5 m hoặc 5 m x 4 m.
Trường hợp các hộ khó khăn về vốn thì lúc đầu có thể trồng thưa với mật độ 200 cây/ha, sau đó đợi năm thứ 3 trở đi tách gốc để trồng bổ sung vào giữa khoảng cách các băng trống.
Khi trồng tre dùng cuốc đảo trộn đều hỗn hợp phân lót với đất cho tơi nhỏ, đặt cây giống xuống, trường hợp cây giống có bầu nilon phải rạch túi bầu bỏ đi rồi mới đặt cây xuống hố. Riêng đối với Tre Bát Độ cần ngâm củ giống vào nước lã khoảng 12 tiếng để cho củ giống hút no nưóc rồi mới đem trồng thì tỷ lệ sống cao. Đặt gốc tre nghiêng khoảng 45 o (trường hợp trồng bầu thì đặt bầu thẳng đứng) rồi dùng đất nhỏ mịn lấp đầy hố và nén chặt. Sau đó tưới nước thật đẫm để cho đất sụt xuống làm đầy các khoảng trống đảm bảo rễ cây tiếp xúc tốt với đất. Cuối cùng vun đất quanh gốc thành hình mân xôi để chống đọng nước, tuyệt đối không được để mặt hố thấp hơn bên ngoài tạo thành vũng đọng nước. Dùng rơm rạ phủ xung quanh gốc cây một lớp dày 10-20 cm để giữ ẩm và chống cỏ dại cho cây.
V/ Chăm sóc.
Trong năm đầu khi giữa các hàng tre chưa giao tán nên trồng xen cây họ đậu để che phủ mặt đất chống bốc hơi, giữ ẩm đất và cải tạo đất.
Xới xáo làm cỏ xung quanh gốc tre tối thiểu 3 tháng 1 lần kết hợp với tủ rơm rạ quanh gốc. Việc làm này vừa tạo cho đất tơi xốp thuận lợi cho măng mọc, vừa giữ ẩm cho đất...; đặc biệt vào vụ hè hoặc vùng có gió khô nóng tủ gốc cho cây được coi là biện pháp rất quan trọng.
Hàng năm cần bón thúc cho cây sinh nhiều măng, mỗi năm bón 2 lần vào vụ xuân trước khi ra măng và vụ thu sau khi ra măng giúp cây phục hồi sức nhanh. Dùng 10 kg phân chuồng hoai hoặc 0,2 kg phân đạm + 0,1 kg phân ka li + 0,1 kg Supe lân bón cho mỗi bụi tre. Cách bón: đào rãnh nhỏ sâu 5 cm rộng 10 cm xung quanh bụi tre cách gốc khoảng 1m rồi rải phân đều lấp kín đất lại.
Nếu có điều kiện cần tưới nước cho cây trong những ngày khô hạn sẽ giúp cây sinh trưởng tốt và tạo điều kiện cho măng mọc dễ dàng.
VI/ Thu hái và chế biến măng.
Măng của các loài tre chuyên cho măng thường có chất lượng cao khi còn nằm trong đất, khi đã nhô lên cao khỏi mặt đất bị ánh sáng chiếu vào thường măng bị giảm phẩm chất. Vì vậy nếu sử dụng măng tươi cần khai thác măng khi chưa lộ khỏi mặt đất và cách đơn giản chống ánh sáng chiếu vào măng là phủ lớp rơm rạ dày khoảng 20-30 cm trên mặt đất quanh bụi tre.
Quan sát mặt đất quanh bụi tre nếu thấy chỗ dạn nứt chân chim thì phải dùng thuổng bới đất ra thâý củ măng sẽ dùng dao cắt. Vị trí cắt ở chỗ thắt của củ măng cách gốc tre mẹ khoảng 3-4 cm, chú ý cắt thẳng theo chiều vuông góc với bề mặt măng. Sau khi cắt măng xong lấp ngay đất lại.
Trong trường hợp khai thác măng để chế biến măng khô theo cách của Trung Quốc thì đợi măng mọc cao khỏi mặt đất khoảng 0,8 - 1 m mới thu hái. Thời gian thu hái măng thích hợp nhất là vào buổi sáng sớm khi chưa có ánh sáng mặt trời chiếu hoặc vào những ngày mưa. Măng mang về cắt khoanh dài khoảng 3 - 6 cm (dùng móng tay bấm nếu chỗ nào già thì vứt bỏ). Cho các khoanh măng vào nồi luộc trong 2 giờ, vớt ra để cho ráo nước, rồi cho vào túi nilon ủ kín trong 15 ngày cho lên men. Tãi măng đã ủ kỹ ra nong nia để phơi nắng cho đến khô.
Chế biến măng cắt khoanh và luộc chín
Các loài tre chuyên lấy măng thường có thời vụ ra măng vào mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 (có loài đến tận tháng 11), rộ nhất là các tháng 6, 7, 8. Vì vậy trong vụ măng cần khai thác măng đúng thời gian, vì măng sinh trưởng rất nhanh, thường thì trong vụ rộ cách 1-2 ngày một lần, còn đầu và cuối vụ 5-6 ngày một lần.
Chọn khoảng 2-4 củ măng to mập, không bị sâu bệnh mọc lên vào khoảng tháng 8, 9 để lại nuôi dưỡng làm cây thay thế cây mẹ sau này.
VII/ Điều tiết cây mẹ.
Tuỳ theo mục đích kinh doanh mà số lượng cây mẹ trong một bụi tre cần phải điều tiết cho phù hợp. Trường hợp mục tiêu là kinh doanh măng thì hàng năm phải loại bỏ cây mẹ già tuổi 3 trở lên chỉ để lại khoảng 6-8 cây bánh tẻ tuổi 2 trong một bụi tre. Cách loại bỏ cây mẹ già là phải đào đất trơ hết củ gốc của cây mẹ rồi chặt bỏ tận củ gốc cây mẹ đó, xong lấp đất lèn chặt như cũ.
Trường hợp mục tiêu trồng rừng để lấy thân cây tre làm nguyên liệu thì số lượng cây để lại nuôi trong mỗi bụi sẽ phải lớn hơn.
Đầu tư trồng tre măng:
Giá cây giống trong thời điểm hiện tại khoảng 13.000 - 15.000 đ/gốc, với mật độ trồng 500 cây/ha thì tiền giống khoảng 7.500.000 đ/ha.
Phân chuồng 2 tấn/ha giá khoảng 1.000.000 đ.
Phân NPK 250 kg/ha cho năm đầu giá khoảng 500.000 đ/ha
Như vậy tiền giống, vật tư cho năm đầu mất khoảng 9.000.000 đ/ha. Còn công lao động tính theo thời giá của địa phương.
Theo lý thuyết từ năm thứ 3 trở đi sẽ có thu hoạch măng, nhưng qua thực tế trồng ở nhiều địa phương nước ta ngay năm thứ 2 đã có thể thu hoạch măng

Máy cắt rau má của một nông dân sáng tạo








30/12/2009

Người dân ấp Thân Đức, xã Thân Cửu Nghĩa (Châu Thành - Tiền Giang) luôn coi rau má là cây trồng mang lại lợi nhuận cao bởi vốn đầu tư ít nhưng bán được giá. Tuy nhiên, khi vào mùa, nhân công khan hiếm, việc thu hoạch trở nên khó khăn, không ít hộ chấp nhận nhìn rau má héo úa. Từng rơi vào cảnh này nên anh Nguyễn Giáp đã mày mò sáng chế ra loại máy có thể thu hoạch rau má nhanh, gọn, tiết kiệm công sức, và anh đã thành công.

Anh Giáp kể, cuộc sống của gia đình trông chờ chủ yếu vào 5 công đất trồng rau má (1 công = 1.000m2). Trước đây, nhiều lúc anh chấp nhận để cho rau má héo úa do không thuê được nhân công thu hoạch.

Bức xúc trước tình cảnh này, anh Giáp luôn trăn trở với suy nghĩ làm sao thu hoạch rau má dễ dàng, không mất công tìm người, vừa tiết kiệm chi phí, lại vừa hiệu quả. Từ suy nghĩ này, anh liên tục tìm tòi sáng tạo để thiết kế máy cắt rau, cuối năm 2005, anh đã cho ra mắt sáng chế của mình trong sự khâm phục của bà con lối xóm.

Máy cắt rau của anh Giáp có trọng lượng hơn 80kg, tổng kinh phí lắp đặt khoảng 2,5 triệu đồng, gồm 1 máy dầu 4 HP chạy bằng dầu diesel, 2 bánh xe trước được tận dụng bằng bánh xe ba bánh, bánh lái là bánh xe đạp mini, 2 dây cua-roa, 1 dây giảm tua và bên dưới là 2 lưỡi dao cắt có đường kính quay vòng 1,5m. Anh còn thiết kế bộ vận hành với 2 tốc độ khác nhau. Tốc độ 1 cắt rau dày đạt khoảng 4km/giờ, tốc độ 2 cắt rau thưa khoảng 7km/giờ. Bên cạnh đó, máy còn có bộ phận điều chỉnh lưỡi dao nâng lên, hạ xuống khoảng 5 - 10cm. Hai bên bánh xe có thể giãn ra 1,6m hoặc thu hẹp 1,2m để tiện di chuyển tùy theo đường rộng hay hẹp.

Ngoài việc cắt rau má, máy còn có thể dùng vào việc bơm nước từ kênh lên tưới cho ruộng đồng.

Trước đây, máy cắt rau của anh được thiết kế chạy bằng môtơ điện, nhưng mỗi lần di chuyển không thuận tiện nên anh quyết định thay môtơ điện bằng máy dầu 4HP, tiện ích và tiết kiệm hơn.

Ngay từ năm 2005, sau khi anh chế tạo thành công máy cắt rau má, người dân trong xã và các địa phương lân cận đã đến nhờ anh thu hoạch rau má hoặc cắt cỏ ở công viên, sân vận động. Mức giá tùy thời điểm, công việc mà dao động trong khoảng 25.000 - 30.000 đồng/công.

Tuy nhiên, điều khiến anh trăn trở là nguồn vốn cho đầu tư sáng chế không có, chính vì vậy anh muốn cải tiến máy hoặc làm thêm nhiều máy khác phục vụ bà con nhưng lực bất tòng tâm. “Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của lãnh đạo các cấp, để tôi có thể giúp bà con nhiều hơn nữa”, anh Giáp cười nói.

Ông Dương Văn Hoàng, Phó chủ tịch UBND xã Thân Cửu Nghĩa cho biết: “Xã có 140ha đất trồng rau má, tập trung ở các ấp Thân Đức, Thân Hoà, Thân Đạo... Nếu chỉ thu hoạch thủ công thì tiến độ không đảm bảo, chất lượng rau không cao. Giờ đây, có được máy cắt rau của anh Giáp, bà con bớt đi nỗi lo trong mỗi vụ thu hoạch, đồng thời việc làm này cũng thúc đẩy phong trào sáng tạo của địa phương”.

Chia tay chúng tôi, anh Giáp “bật mí” sẽ cố gắng cải tiến để máy của mình làm được nhiều việc hơn nữa chứ không chỉ dừng lại ở việc cắt rau. “Tôi muốn máy vừa cắt vừa có thể gom vào bao như máy gặt đập. Hy vọng lần sau nhà báo về thăm là tôi có máy mới để khoe”, anh nhấn mạnh.

Công nghệ sấy nhãn bằng khí đốt bồn hơi tại Bến Tre








18/12/2006

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Doãn Sơn cùng nhóm cộng sự thuộc Khoa cơ khí- Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh vừa chuyển giao đề tài nghiên cứu thiết bị và chế tạo thiết bị công nghệ sấy nhãn tươi cho anh Nguyễn Thanh Hòa, ở xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Quy trình sấy nhãn bao gồm: ruột nhãn tươi được bóc qua khâu thủ công đựng vào từng khay đưa vào phòng sấy. Lò đốt than đá được đặt cạnh phòng sấy và có ống dẫn hơi khí đốt từ bồn chứa hơi vào. Việc áp dụng công nghệ này sẽ đem lại nhiều tiện lợi cho người làm nghề sấy nhãn. Thời gian sấy nhãn được rút ngắn xuống còn 12 -16 giờ, trong khi đó lò sấy thủ công phải mất 48 giờ. Với công nghệ này mỗi ngày sẽ sấy được một tấn nhãn thành phẩm và khắc phục tình trạng lò đốt thải ra nhiều khói gây ô nhiễm môi trường. Tổng số vốn đầu tư hoàn chỉnh công nghệ là 600 triệu đồng, có thể thu hồi vốn trong khoảng thời gian 6 tháng.

Áp dụng công nghệ này anh Hòa giải quyết việc làm cho 100 lao động điạ phương. Sắp tới anh sẽ áp dụng thêm công đoạn đóng gói sản phẩm bằng máy tự động và tuyển chọn khoảng 200 lao động nữa phụ trách việc bóc cơm nhãn.

Sản xuất pectin từ vỏ hoa quả








27/12/2006

MÔ TẢ Thiết bị/Công nghệ (TB/CN):

• Quy trình công nghệ:

XỬ LÝ NGUYÊN LIỆU (vỏ hoa quả) -GIA NHIỆT, LÀM KHÔ -XAY NGHIỀN -XỬ LÝ HÓA CHẤT, GIA NHIỆT NƯỚC, LỌC LẤY DỊCH -KẾT TỦA PECTIN -LỌC LẤY PECTIN -SẤY KHÔ -XAY NGHIỀN THÀNH BỘT.

•Thiết bị, máy móc chủ yếu:

- Máy xay nghiền thô: 1 cái

- Thiết bị 2 vỏ gia nhiệt bằng inox: 1 cái

- Thiết bị trao đổi ion, xử lý nước cứng: 1 cái

- Máy ly tâm: 1 cái

- Máy sấy: 1-2 cái

- Máy xay mịn: 1 cái

• Năng suất: 10-20 Kg/ca

• Đạt tiêu chuẩn nước ngoài

• Đạt ĐKCL của đơn vị, cụ thể là:

- Độ ẩm: 12%

- Hàm lượng Pectin: 60%

- Cảm quan: bột màu vàng sáng, có mùi thơm của vỏ hoa quả.

LĨNH VỰC ÁP DỤNG TB/CN:

• Sử dụng trong chế biến hoa quả

• Sản xuất mứt hoa quả các loại

• Mứt thạch dừa

ƯU ĐIỂM CỦA TB/CN:

• Qui trình công nghệ đơn giản

• Nguyên liệu dễ kiếm, giá thành hạ

• Thay thế cho nhập ngoại như hiện nay.

(Tham khảo mạng thông tin khoa học và công nghệ Tp Hồ Chí Minh)

Sản xuất rượu trái cây








27/12/2006

MÔ TẢ Thiết bị/Công nghệ (TB/CN):

• Quy trình công nghệ:NGUYÊN LIỆU (mơ, mận, mai, dứa, cam, nho)

- LỰA CHỌN LÀM SẠCH - ÉP - LÊN MEN CHÍNH - LỌC THÔ - LÊN MEN PHỤ - LƯU TRỮ - PHA CHẾ - LỌC- ĐÓNG CHAI - BAO BÌ -THÀNH PHẨM.

• Sản phẩm: hàm lượng cồn: 11,5%;hàm lượng axít: 7 g/l; hàm lượng đường: 60 g/l

• Sản phẩm không sử dụng hóa chất bảo quản, đảm bảo an toàn thực phẩm. Có ứng dụng công nghệ sinh học để nâng cao giá trị dinh dưỡng và cảm quan của sản phẩm

• Năng suất: 1.000 lít/mẻ/15 ngày

LĨNH VỰC ÁP DỤNG TB/CN:

• Chế biến thực phẩm và nước giải khát

PHƯƠNG THỨC CHUYỂN GIAO TB/CN:

• Bán TB/CN; Đào tạo.

(Tham khảo: Mạng thông tin khoa học và công nghệ Tp Hồ Chí Minh)

Phương pháp bảo quản và chế biến nhãn, xoài








6/3/2007


1. Cách bảo quản:

Phần lớn nhãn, xoài tiêu thụ trên thị trường hiện nay đều đựng trong sọt tre, thùng gỗ, thùng carton để trong điều kiện tự nhiên, vì vậy bị tác động bởi nhiệt độ, ẩm độ cao lại vận chuyển đi xa nên chỉ bảo quản được 7 – 10 ngày, tỷ lệ dập nát đến 20 – 25%, có khi tới 30%.

Các viện nghiên cứu, trường đại học đã nghiên cứu vá ứng dụng thành công một số phương pháp bảo quản nhãn, xoài tươi như sau:

- Công nghệ bảo quản quả tươi ở nhiệt độ bình thường có sử dụng chất diệt nấm, vi sinh vật và côn trùng bằng xông khí SO2 và các phương pháp thay đổi thành phần môi trường bảo quản. Công nghệ này có thể bảo quản được 15 – 16 ngày, tỷ lệ hao hụt 10 – 12%, có thể vận chuyển đi xa từ các tình Nam Bộ ra miền Bắc.

- Công nghệ bảo quản quả tươi đối với xoài ở nhiệt độ thấp 10 – 12oC, với nhãn 5 – 7 độ C là phương pháp bảo quản hiệu quả nhất, thời gian bảo quản kéo dài trên 30 ngày, tỷ lệ hao hụt do dập nát 5 – 7%, có thể vận chuyển đi xa và xuất khẩu (trước khi bảo quản ở nhiệt độ thấp phải loại bỏ những quả thối, dập nát và xử lý các biện pháp như đã nêu trên). Với xoài bảo quản ở nhiệt độ tự nhiên (như ở nước ta) thời gian giữ được rất ngắn. Song bảo quản ở nhiệt độ thấp dưới 10oC, quả xoài gặp nhiều hạn chế: dễ bị tổn thương do nhiệt độ lạnh làm trái chuyển màu, thịt mềm, mùi vị không đặc trưng như chín bình thường. Xoài sau khi thu hoạch, phân loại, rửa sạch rồi ngâm trong dung dịch CaCl2 hoặc Ca(NO3)2, nồng độ sử dụng 4 – 6%, vớt ra để khô ở điều kiện tự nhiên, sau đó đựng trong túi nilông kích thước 15 x 25 cm, có 20 lỗ thoát ẩm trên túi. Bảo quản ở nhiệt độ 11 – 11,5o C là tốt nhất, thời gian bảo quản trên 30 ngày, xoài vẫn giữ được màu sắc, chất lượng tốt.

- Về bao bì bảo quản nhãn, xoài:

+. Một loại truyên thống dùng sọt tre, nứa, thùng gỗ (đóng từng thanh) có giá thành thấp nhưng tỷ lệ dập nát, thối nhũn cao.

+. Dùng thùng carton có đục lỗ thoát ẩm, giá thành tuy có cao hơn loại truyền thống song tỷ lệ hao hụt, dập nát, thối ít hơn nhiều nên hiệu quả cuối cùng vẫn cao.

Ngoài bảo quản tươi, đối với nhãn, còn sử dụng biện pháp sấy để sơ chế, bảo quản cho bán quả khô và chế biến long nhãn (cùi khô). Hiện nay, đang áp dụng biện pháp sấy cùi bằng cách xoắn bỏ hạt ngay tù khi quả còn tươi, khi khô vẫn giữ được hìnnh dạng của quả và tiêu hao nhiên liệu thấp. Khôi lượng đưa vào sấy chiếm 30 – 35% tổng sản lượng. Công nghệ sấy chính là thủ công, dùng than củi, than đá. Công suất sấy của các lò trung bình từ 8 – 10 tấn/mẻ, có thể lên đến 20 tấn/mẻ; thời gian sấy 1 mẻ từ 24 – 48 giờ. Những lò sấy thường tập trung quanh vùng nhãn, riêng tỉnh Bến Tre có trên 100 lò sấy.

Do qui trình công nghệ sấy còn lạc hậu nên chất lượng sản phẩm chưa cao, không đồng đều về màu sắc, hình dạng, chưa đáp ứng yêu cầu thị trường của một số nước khó tính.

2. Cách chế biến:

Nhãn, xoài chế biến được nhiều loại sản phẩm như nhãn ngâm đường, xi-rô, nước nhãn, xoài giải khát. Hiện nay có 8 nhà máy chế biến thực phẩm xuất khẩu là Deltafood, LD Donanewtower, Interfood, Tân Bình, Delta Long An, Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang; tổng công suất 65.500 tấn sản phẩm/năm

Quy trình chế biến tinh bột sắn từ củ sắn








7/3/2007


1. Mài xát sắn thành cháo bột

Có thể dùng các dụng cụ khác nhau để mài xát sắn thành cháo bột. Dùng hai tay mài sát củ sắn trên bàn mài xát sắn thủ công có tấm kim loại đột gai. Năng suất 5 - 7 kg/giờ. Sử dụng bàn xát sắn tay quay có tấm kim loại đột gai gắn trên trục quay. Chậu hứng cháo bột có nước ngập mặt dưới của tấm kim loại đột gai để làm sạch mặt mài. Năng suất khong 10 - 15 kg/giờ

- Để tăng năng suất dùng máy xát sắn đạp chân như máy tuốt lúa.Tay răng tuốt lúa bằng tấm kim loại đột gai: Chiều dài trục sát chỉ khong 15 -20 cm tay để vừa sức chân đạp. Hạ nghiêng bàn đưa lúa để dẫn củ sắn vào mặt mài. Máy xát

sắn đạp chân có thể đạt năng suất 100 kg/giờ.

- Nếu có động co kéo thì trục gỗ có đóng đinh cứng, nhỏ thay cho tấm kim loại đột gai. Máy xát sắn có động cơ đạt năng suất 300 - 500 kg/giờ.

2. Lọc bã

- Cứ một phần cháo bột dùng bốn phần nước để lọc bỏ bã sắn. Vi lọc càng mịn thì tinh bột sắn thu được càng đẹp. Vi lọc được căng thành vỏ hoặc may thành túi cho dễ lọc. Tinh bột cùng với nước lọt qua vi lọc tạo thành dịch bột. Hứng dịch bột vào bể lắng.

- Bã sắn dùng làm nguyên liệu thức ăn gia súc, gia cầm.

3. Lắng thu hồi tinh bột

Đơn giản có thể dùng ni lông lót trong sọt thồ để lắng. Nếu ít, có thể dùng chậu lắng, rửa tinh bột.

- Bể lắng có dạng nằm, rộng đáy, không quá cao. Nếu là bể chuyên dùng để chế biến tinh bột sắn, cần có vòi xa cách đáy 10 - 15 cm. Lắng bột ít nhất 12 giờ (thường đề lắng qua đêm), khi bột đã lắng chắc dưới đáy bể, dùng ống cao su ống nhựa hoặc vòi x để gạn nước trên bề mặt bột. Khi gạn nước không làm xáo động tinh bột.

- Dùng nước sạch để rửa bề mặt tinh bột. Nước rửa bề mặt bột được pha vào dịch bột của mẻ sau nhằm tận thu bột. Sau đó, xúc tinh bột ra để bo qun. 2,5 - 3 kg củ sắn tưi cho 1 kg tinh bột ướt. Tỷ lệ tinh bột thu được phụ thuộc nhiều vào mức mịn của cháo bột, kỹ thuật lọc bã và thao tác gạn lắng tinh bột.

4. Bảo quản tinh bột ướt

Tinh bột ướt được bảo quản bằng ang, chum, vại, bể, túi ni lông. Càng giữ kín càng bo qun tinh bột được lâu.

- Nếu số lượng lớn, đựng tinh bột ướt trong túi ni lon rồi chôn kín dưới đất để gối vụ.

Phương pháp sản xuất nước quả mới








30/3/2007


Sản xuất các loại nước quả (như nho, táo, cam...) từ lâu dựa trên việc trích li dịch quả từ thịt quả nghiền. Các loại quả như nho, táo, cam, xoài... sau khi tách vỏ bỏ hạt, sẽ được đem nghiền, thu được thịt quả nghiền, có dạng dịch nhuyễn. Từ thịt quả nghiền, người ta ép tách bã để thu dịch quả.


Một phương pháp mới được áp dụng trong sản xuất nước quả đã làm tăng hiệu suất tích li dịch quả, giảm một số công đoạn sản xuất và làm tăng các chỉ số cảm quan của nước quả.

Flash detente hay còn gọi là phương pháp nổ nhanh lần đầu được P.O.Cogat thử nghiệm năm 1998. Năm 2002, thạc sĩ Hoàng Đình Tùng (Trường ĐH Nông nghiệp I Hà Nội) đã cùng với các giáo sư người Pháp M.Reynes, J.M.Brillouet, M.Dornier thuộc Trung tâm Hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp tại miền Nam nước Pháp đã hoàn chỉnh những nghiên cứu cuối cùng của phương pháp này. Cho đến nay, việc áp dụng phương pháp nổ nhanh đã đưa vào sản xuất và mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp.

Phương pháp nổ nhanh là sự phá huỷ các mô thực vật thông qua hai tác dụng chính của quá trình xử lý: gia nhiệt để làm mềm mô quả, sau đó cho nổ nhanh trong môi trường áp suất thấp làm vỡ các tế bào chứa dịch quả. Nhờ các tác dụng nhiệt và nổ chân không dẫn đến sự phá huỷ tối đa cấu trúc tế bào, vô hoạt các enzym oxy hóa vốn có trong quả (peroxydase, polyphenol oxydase...) dẫn đến làm tăng hiệu suất thu hồi sản phẩm, các hiện tượng nâu hóa khi thịt quả tiếp xúc với ôxy không khí cũng như các phản ứng ôxy hóa đã được hạn chế.

Sản phẩm thu được có màu sắc và hương thơm hấp dẫn... Quá trình nổ nhanh được thực hiện trong một thiết bị tên gọi là thiết bị nổ nhanh. Thiết bị này thực chất là một buồng xử lý, có khả năng gia nhiệt và điều chỉnh áp suất trong buồng. Quả sau khi được rửa sạch loại bỏ đất cát, được đưa vào buồng xử lý. Đầu tiên, nhiệt độ được duy trì 85-88 độ C trong từ 10-20 phút tùy theo từng loại quả, sau đó áp suất buồng xử lý sôi rất mạnh, kết quả thịt quả nghiền thu được có độ nhuyễn tối đa, màu sắc sản phẩm tươi, mùi thơm, hiệu suất thu hồi tăng 28% so với phương pháp sản xuất truyền thống. Với một nhà máy quy mô cỡ trung bình, sản xuất 100 tấn thịt quả/ngày sẽ thu được 59 tấn thịt quả nhuyễn, trong khi bằng phương pháp cũ chỉ nhận được 46 tấn, tăng 13 tấn thịt quả. Con số này mang lại giá trị không phải là nhỏ cho các nhà sản xuất.

Bảo quản và chế biến chuối








13/6/2007


Chuối là loại trái cây thông dụng ở Việt Nam , từ quả chuối, hoa chuối, thân chuối. Có thể chế biến ra nhiều món ăn như chuối khô, chuối sấy, mứt chuối, rượu chuối, nước cốt chuối, bột chuối...


Chuối khô

Chuối chín tới hoặc chuối xanh bóc vỏ, thái lát, trải lên khay thủng, xông lưu huỳnh 15 phút, sau đó đem phơi hoặc sấy khô ở 55 – 91OC trong 18 đến 20 giờ. Để nguội cho vào túi nilông. Có thể giữ được trong 25 ngày. Nếu sau khi cho vào túi hàn kín lại để được 90 ngày.

Chuối khô có thể nghiền ra làm bột chuối hoặc làm thức ăn liền.

Lấy 5 kg chuối chín, bóc vỏ, thái lát, ngâm vào dung dịch bicacbonat sedium ( ½ thìa cà phê pha với 2 lít nước), xếp vào khay đem xông lưu huỳnh trong 1 giờ, đem ra phơi nắng hay sấy trong lò có nhiệt độ 55 – 60OC trong 20 giờ. Để nguội cho vào hộp sắt đậy kín.

Lát chuối khô có mùi thơm như mùi bánh mỳ, dùng làm nộm quả khô, kem đều được

Chuối khô (phương pháp dân gian)

Chuối chín bóc vỏ, thái lát ngang mỏng, trải đều trên nong, nia. Sấy bằng than củi khoảng 10 giờ. Chuối khô giòn, mùi thơm. Cho vào lọ thủy tinh dành ăn dần.

Chuối chín bóc vỏ, để cả quả trải trên nia, phơi héo, đưa vào sấy bằng than củi một đêm. Chuối khô, dẻo , ăn ngọt. Cho vào lọ đậy kín hoặc túi buộc kín. Chuối khô dùng làm món tráng miệng với nước trà đặc.

Kẹo chuối khô

Chuối khô thái chỉ, cho đường vào nước cốt dừa đun sôi, thả chuối, gừng non thái chỉ, dừa nạo trộn đều, đun nhỏ lửa, tới khi chuối đặc sền sệt vừa khô, bắc xuống. Chuối đã ngọt nên chỉ cần cho thêm một ít đường, 1 kg chuối khô chỉ cần cho 0,2 kg đường là đủ. Đổ chuối vào khuôn đã láng một lớp dầu dừa, nén chặt. Rắc ít lạc rang vàng bỏ vỏ, tách đôi lên trên. Dùng chày cán nhẹ lên chuối cho lạc dính vào chuối. Để nguội, cắt thành thanh, cho vào lọ thuỷ tinh hoặc bọc giấy bóng. Kẹo chuối thơm, ngon, màu đỏ óng rất đẹp.

Chuối hộp

Chuối chín bóc vỏ, thái lát dọc quả, bỏ vào lon lùn, đổ ngập sirô đường 25 – 30o Brix và 0,2% axit xitric, để chuối có độ pH = 4,5 – 5,3. Dập kín nắp, thanh trùng trong nước sôi 100o C 15 phút hạơc trong nồi áp suất, rồi làm nguội nhanh để tránh sirô thay đổi màu, đục trong thời gian bảo quản, làm giảm chất lượng.

Chuối hộp thơm, ngon, màu hồng, rất được người nước ngoài ưa thích

Nước cốt chuối

Chuối chín bóc vỏ, chần nước sôi hoặc hơi nước sôi (88o C), xay nhuyễn, thêm đường và axit xitric để đạt độ pH = 4,2 – 4,3 (khoảng 100 ga axit xitric cho 45,50 kg nước cốt). Đun sôi, đóng hộp, hàn kín, lật ngược hộp xuống trong 5 phút, làm nguội đến 35oC. Khi đóng hộp hàn lon phải nhanh để tránh không khí lọt vào làm giảm chất lượng sản phẩm.

Dưa chuối chát

Chuối chát (chuối hột) gọt sạch vỏ, thái mỏng, ngâm vào nước có pha chanh khoảng 10 phút cho chuối đỡ chát, vớt ra ép ráo, rồi lại ngâm vào nước chanh có thêm tý muối, để chuối chuyển màu trắng. Xếp vào thẩu, đổ ngập nước chanh pha muối, gài chặt, để một ngày. Vớt chuối ra, ép ráo nước chanh, lại xếp vào thẩu, dội nước muối, đường, giấm đun sôi để nguội, gài chặt. Sau 4 ngày là ăn được. Trước khi ăn thái gừng, ớt, tỏi, băm nhỏ hoà thêm nước mắm, ngâm chuối vào. Ăn kèm chả, ném, tré. Món ăn của người Huế.

Rượu chuối

Chuối tây già bóc vỏ, thái mỏng, hấp chín. Bỏ chuối vào lọ thủy tinh, đổ ngập nước đường đun sôi để nguội, cho men rượu vào, đậy kín (cứ 1 kg chuối cho khoảng 300 kg đường và 5 viên men). Sau 1 tháng, gạn lấy nước trong cho vào chai, đậy kín. Rượu chuối uống thơm, ngon, dễ tiêu.

Phương pháp chế biến xoài








18/6/2007


Nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu bảo quản - chế biến rau quả và khoa Công nghệ thực phẩm (ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh) đã xây dựng thành công quy trình chế biến các sản phẩm từ xoài. Công nghệ này đã được tặng Huy chương vàng tại Techmart Vietnam 2003.


Chế biến xoài sấy

Quy mô xưởng sấy từ 150 - 250kg nguyên liệu. Xoài được ủ ở nồng độ CaC2 (khí đá) 1%, thời gian ủ 36 giờ.

Xoài được rửa sạch, gọt vỏ, cắt lát, rồi xử lý ở nhiệt độ 80 - 900C trong 5 - 9 phút. Các miếng xoài được ngâm trong dung dịch nước đường có nồng độ 40 - 50%, thời gian ngâm 18 - 20 giờ. Sau đó xoài được rửa lại bằng nước ấm trước khi đem ra khay sấy. Nhiệt độ sấy 50 - 600C và sấy trong 14 -18 giờ. Sản phẩm phải có độ ẩm 16 -18%.

Chi phí đầu tư cho thiết bị này khoảng 160 triệu đồng.

Chế biến nước xoài

Nước đường (phụ phẩm sau chế biến xoài sấy) được phối chế với 20% bột xoài và nước ngâm dứa, bổ sung thêm 0,3 - ,5% acid citric. Sau khi được phối chế,dung dịch được bổ sung chất ổn định và được đồng hóa (10 phút) để tránh hiện tượng tách lớp. Dung dịch được bài khí bằng cách đun nóng trước khi rót chai ghép nắp và thanh trùng ở nhiệt độ 1000C trong 15 phút. Sản phẩm nước có mầu vàng tươi, mùi thơm tự nhiên...

Chi phí đầu tư cho quy trình này khoảng 60 triệu đồng.

Chế biến giấm xoài

Dung dịch nước đường trong chế biến xoài sấy được xử lý nhiệt trước khi phối chế với nước theo tỷ lệ 1/3, có bổ sung rượu. Hỗn hợp này được bơm vào thiết bị lên men liên tục, có sục khí nhằm cung cấp oxy cho hệ vi sinh vật thuần khiết đã được phân lập và được cấy trên giá thể xốp đặt trong thiết bị. Thời gian lên men là 7 - 10 ngày (ngắn hơn thời gian lên men thông thường 3 lần), độ chua của giấm là 5 - 6%. Giấm có độ trong cao, màu vàng nhạt, thoảng hương thơm trái cây.

Phòng trị sâu hại, bệnh hại cho cây khổ qua








19/9/2007


* SÂU HẠI
- Ruồi đục trái (Bactrocera cucurbitae): Ruồi có hình dạng và kích thước rất giống ruồi đục trái cây, nhưng chỉ gây hại trên các cây họ Bầu Bí. Ấu trùng là dòi có màu trắng ngà, đục thành đường hầm ngoằn ngèo bên trong trái làm trái thối vàng, rụng sớm.
Nên thu gom tiêu diệt trái rụng xuống đất, cày phơi đất sau vụ hoặc cho nước ngập ruộng vài ngày để diệt nhộng. Phun ngừa ruồi bằng các thuốc Sherpa, Karate, Cyper-alpha, Cyperan. Nếu ruồi ở mật độ cao có thể dùng dấm pha với một ít đường và trộn với thuốc trừ sâu, xong đặt rải rác, 6 -10 m một bẩy. Cũng có thể dùng giấy báo, bao nilong để bao trái sau khi trái đậu 2 ngày.

- Rầy lửa, bọ trỉ, bù lạch (Thrips sp.)

- Thành trùng và ấu trùng rất nhỏ có màu trắng hơi vàng, sống tập trung trong đọt non hay mặt dưới lá non, chích hút nhựa cây làm cho đọt non bị xoăn lại. Bù lạch phát triển mạnh vào thời kỳ khô hạn, thiệt hại do bọ trĩ, bọ dưa có liên quan đến bệnh siêu trùng. Nên kiểm tra ruộng dưa thật kỹ để phát hiện sớm ấu trùng bù lạch.

- Bù lạch có tính kháng thuốc rất cao, nên định kỳ 7-10 ngày/lần phun dầu khoáng DC-Tron plus (Caltex) sẽ giảm đáng kể sự tấn công của bù lạch; khi thấy mật số vài ba con trên một đọt non cần phun một trong các loại như Confidor 100SL, Admire 50EC, Danitol 10EC, Vertimec...0.5-1%o, cần thay đổi thuốc thường xuyên.

- Rệp dưa, rầy nhớt (Aphis spp.)
Còn được gọi là rầy mật, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, dài độ 1-2mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bị vàng. Rầy truyền các loại bệnh siêu vi khuẩn như khảm vàng. Chúng có rất nhiều thiên địch như bọ rùa, dòi, kiến, nhện nấm.. nên chỉ phun thuốc khi nào mật số quá cao ảnh hưởng đến năng suất. Phun các loại thuốc phổ biến như trừ bọ rầy dưa hoặc Trebon.

- Sâu ăn lá (Diaphania indica)

- Bướm nhỏ, màu nâu, khi đậu có hình tam giác màu trắng ở giữa cánh, hoạt động vào ban đêm và đẻ trứng rời rạc trên các đọt non. Trứng rất nhỏ, màu trắng, nở trong vòng 4-5 ngày. Sâu nhỏ, dài độ 8-10mm, màu xanh lục có sọc trắng đặc sắc ở giữa lưng, thường nhả tơ cuốn lá non lại và ở bên trong ăn lá hoặc cạp vỏ trái non. Sâu đủ lớn, độ 2 tuần làm nhộng trong lá khô.
- Phun thuốc ngừa bằng các loại thuốc phổ biến trên đọt non và trái non khi có sâu xuất hiện rộ như thuốc trừ rệp dưa, bọ rầy dưa.

* BỆNH HẠI
- Bệnh đốm phấn, sương mai do nấm Pseudoperonospora cubensis. Lúc đầu, ở mặt trên lá vết bệnh nhỏ màu xanh nhạt, sau đó chuyển sang màu vàng nâu và giới hạn trong các gân phụ của lá, nên đốm bệnh có hình góc cạnh. Bên dưới ngay vết bệnh có lớp tơ nấm lúc đầu màu trắng sau đó chuyển sang màu vàng tím. Nhiều vết bệnh liên kết lại làm lá vàng, cây phát triển chậm, trái nhỏ kém chất lượng. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao.
Phun Curzat M-8, Mancozeb 80 WP, Copper-zinc, Zin 80WP, Benlate-C 50 WP hoặc Ridomil 25WP 1-2 % kết hợp tỉa bỏ lá già.

- Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum lagenarium: Bệnh gây hại trên hoa, cuống trái, trái non và cả trái chín. Vết bệnh trên trái có màu nâu tròn, lõm, khi bệnh nặng các vết này liên kết thành mảng to gây thối trái và làm trái rụng sớm.

- Phun Manzate 200, Mancozeb 80WP, Antracol 70W, Curzate M8, Copper-B, Topsin-M, Benlat-C 50WP nồng độ 2-3%.

Kỹ thuật bảo quản trái dứa sau thu hoạch








25/9/2007


Trái thơm (trái khóm, trái Dứa) hiện là cây công nghiệp được trồng rất nhiều ở nước ta. Nhìn chung, do đặc tính của trái dứa nên khi thu muốn bảo quản được trái dứa lâu người trồng phải kết hợp chặt chẽ kĩ thuật thu hoạch và bảo quả trái dứa. Dưới đây xin giới thiệu kĩ thuật thu hoạch và bảo quản trái dứa.

1. Thu hoạch
- Độ chín thu hoạch: Dứa xuất khẩu quả tươi khi thu hoạch vỏ quả đã chuyển từ màu xanh thẫm sang xanh nhạt, 2 hàng mắt phía cuống đã có kẽ vàng. Dứa cho chế biến công nghiệp có 1-3 hàng mắt phía cuống có màu vàng.
- Kỹ thuật thu hái: Cắt quả kèm theo đoạn cuống dài 2-3 cm, vết cắt phẳng không làm quả bị dập, gãy cuống, gãy ngọn. Không thu hoạch vào ngày có mưa hoặc nắng gắt. Khi cần lấy chồi ngọn để trồng hoặc bỏ đi đều phải dùng dao cắt, không dược bẻ vì vết lõm vào quả sẽ gây mau thối quả.

2. Bảo quản
- Bảo quản ở nơi sản xuất: Thu hoạch xong phải vận chuyển về nơi râm mát, sạch, không chất đống ngoài nắng hoặc mưa.
- Bảo quản quả tươi xuất khẩu: Chọn quả lành, không bị dập, không có rệp sáp, vặt bỏ lá ở gốc quả, cắt bằng cuống cách gốc 2cm. Phân loại, đóng gói đưa vào kho mát, vận chuyển bằng xe lạnh có nhiệt độ 7-80C, ẩm độ 85-90%. Thời gian từ thu hoạch đến khi đưa vào kho mát không quá 24 giờ vào mùa Hè và 36 giờ vào mùa Xuân.
- Bảo quản dứa chế biến công nghiệp: Thu hoạch xong, phân loại sơ bộ, chọn quả lành lặn đưa vào kho mát có nhiệt độ 10-120C đối với dứa còn xanh, 7-80C đối với dứa bắt đầu chín, ẩm độ trong kho 85-90% có thể bảo quản được 2-3 tuần.

Diệt trừ bọ hại trên cây na








3/10/2007


Đầu mùa mưa hàng năm, khi vườn cây na (mãng cầu) bắt đầu ra hoa, thì lại xuất hiện một loại bọ cánh cứng rất nhỏ, màu nâu đen cắn phá chùm hoa... Con bọ đục bông (hoa) còn được gọi là bọ vòi voi thuộc bộ cánh cứng Coleoptera. Bọ trưởng thành hình bầu dục màu nâu xám dài khoảng 5mm, đầu của bọ đục bông kéo dài ra phía trước như vòi voi, miệng nhai ở cuối vòi. Sâu non màu trắng sữa có đầu màu nâu. Bọ trưởng thành hoạt động chủ yếu vào ban ngày, thường tập trung phía trong các cánh hoa và đẻ trứng luôn trong đó. Bọ trưởng thành và bọ non đều cắn phá cánh hoa, chúng tấn công từ khi hoa mới nở. Trong 1 hoa thường có rất nhiều bọ sinh sống và phá hại làm hoa bị khô đen và tất nhiên những hoa này sẽ không thể đậu trái.

Bọ đục bông là đối tượng gây hại rất quan trọng ở các vùng trồng na (đặc biệt là tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa - Vũng Tàu), chúng thường xuất hiện và gây hại mạnh từ đầu đến giữa mùa mưa khi hoa bắt đầu ra rộ, bọ đục bông có thể xuất hiện và gây hại trên 80% số cây trong vườn và đến 80 % số hoa trên cây.

Để phòng trừ loại bọ này mà không phải sử dụng thuốc trừ sâu vì sợ ảnh hưởng đến khả năng thụ phấn của hoa, một số bà con trồng na ở Tây Ninh đã bắt giết bọ bằng tay hoặc ngắt cánh hoa để hạn chế sự tập trung gây hại của bọ. Tuy nhiên, biện pháp này rất tốn công và cũng dễ làm xây xát bầu nhụy (điều này có tác động xấu đến khả năng thụ phấn và đậu trái sau này) nên biện pháp phun thuốc trừ sâu có tính xông hơi mạnh và độ nhũ dầu thấp, nhằm tiêu diệt và xua đuổi bọ đục bông mà không làm ảnh hưởng đến hoa, hiện là phương pháp được nhiều bà con chọn lựa.

Để kiểm chứng lại thông tin này, khảo nghiệm việc phun thuốc trừ sâu lên cây na trong thời kỳ ra hoa rộ ở địa bàn Thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã được tiến hành. Loại thuốc được dùng là Sago-super 20EC (thuốc có tính xông hơi mạnh nhưng lại dễ phân hủy trong thời gian ngắn). Liều lượng sử dụng là 20 - 25 ml pha trong bình 8 lít nước (hoặc pha 450 - 500 ml thuốc Sago-super 20EC cho thùng phuy 200 lít nước), phun đều lên tán cây vào lúc sáng sớm. Hiệu quả của thuốc Sago-super 20EC đã mang lại kết quả rất khả quan là: Tiêu diệt và xua đuổi trên 85% bọ đục bông trong vườn mãng cầu, thời gian tái xuất hiện trở lại trong vườn khoảng 15 ngày (do bọ đục bông di chuyển đến từ những vườn mãng cầu ở xung quanh). Như vậy, nếu xử lý thuốc đồng loạt các vườn mãng cầu trong cùng 1 khu vực thì thời gian tái xuất hiện trở lại của bọ đục bông sẽ rất lâu. Phun Sago-super 20EC với nồng độ 0,25 -0,3% (tức là khoảng 20 - 25 ml trong bình 8 lít nước) như trên sẽ không ảnh hưởng đến khả năng đậu trái của cây na.

Tuy nhiên cần lưu ý không được tăng liều lượng khi phun (pha từ 30 ml thuốc trở lên trong bình 8 lít nước) vì có khả năng gây đốm trên hoa. Nên xử lý thuốc 2 lần trong thời gian cây na ra hoa (lần 1: Phun thuốc vào lúc cây bắt đầu ra hoa, lần 2: Cách lần thứ nhất từ 10 - 15 ngày). Chỉ nên phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát (không được phun thuốc vào buổi trưa nắng).

Phương pháp phòng trị bệnh trên một số cây rau ăn quả








9/10/2007


Dưới đây là cách phòng trừ một số bệnh trên cây rau ăn quả thường gặp là dưa leo, cà chua, đậu côve.

1. Đốm lá đậu côve:

Những đốm lá màu nâu đen trên lá là do một số nấm bệnh trên cây đậu rau (như đậu côve, đậu đũa....) gây ra. Nếu quan sát thấy trên lá vết bệnh có hình tròn, màu nâu và trên mặt vết bệnh có những hạt bào tử màu đen, trên thân và trái cũng có vết bệnh hình tròn màu nâu sẫm, hơi lõm xuống, trên đó cũng có các hạt màu đen, vết bệnh không có vòng đồng tâm thì là do nấm Ascochyta pisi gây ra. Còn nếu quan sát thấy vết bệnh là những đốm nhỏ ở hai mặt lá, màu nâu tím, về sau lớn dần, đường kính 2-3mm, trên mặt có lớp bụi phấn mịn màu xanh xám hoặc nâu đen, lá bị bệnh nặng sẽ vàng khô và sớm rụng chỉ còn lại 2-3 lá non trên ngọn và quả non. Vết bệnh cũng không có vòng đồng tâm và không bị thủng lỗ... thì tác nhân là do nấm gây bệnh đốm nâu Cercospora cruenta. Bà con có thể áp dụng các biện pháp phòng trừ gần như nhau:

- Thu dọn tàn dư cây trồng sau thu hoạch.

- Sau thu hoạch cày đất sớm, vùi sâu lớp đất mặt xuống dưới.

- Gieo trồng mật độ vừa phải cho vườn thông thoáng.

- Phun các thuốc gốc đồng, hoặc các thuốc Dipomate, Carbenzim, Hexin, Thio-M,....

- Bón phân cân đối NPK, chú ý bón kali.

- Ngắt bỏ quả và lá bị bệnh đem tiêu hủy triệt để tránh lây lan mầm bệnh, không sử dụng hạt của vụ trước đã nhiễm bệnh làm giống cho vụ sau.

2. Đốm lá dưa leo:

Một số tác nhân vi sinh vật gây ra hiện tượng đốm lá dưa leo là các nấm Pseudopperonospora sp gây bệnh sương mai, nấm Colletotrichum sp gây bệnh thán thư, vi khuẩn Xanthomonas gây đốm lá. Các bệnh này chủ yếu cũng gây hại nặng vào mùa mưa và cũng thường phát sinh gây hại đầu tiên trên lá.

Bệnh sương mai và thán thư lúc mới phát sinh có vết bệnh khá giống nhau đó là các đốm nhỏ màu vàng nhưng sau đó khi các vết bệnh này lớn lên thì có vài điểm khác biệt. Bệnh sương mai thì các đốm có màu nâu, hình đa giác có góc cạnh rất rõ, nếu quan sát kỹ thì mặt dưới lá chỗ vết bệnh có lớp tơ nấm màu trắng hoặc vàng nhạt, vết bệnh già rất dòn và dễ vỡ (lá bị thủng lỗ chỗ), bệnh xuất hiện ở các lá vàng phía dưới rồi lan dần lên, lá bệnh khô vàng và rụng đi, trên cây chỉ còn lại lá non. Bệnh thán thư thì khi vết bệnh phát triển to ra sẽ có màu nâu và quanh vết bệnh có các vòng tròn đồng tâm màu nâu sẫm và khi vết bệnh khô thì lá cũng bị rách vỡ...Đối với bệnh vi khuẩn, vết bệnh có vẻ hơi ướt, lúc đầu cũng màu vàng nhưng sau đó chuyển sang màu trắng bạc và có lỗ thủng ở giữa. Đối với hai bệnh do tác nhân là nấm như bệnh sương mai và thán thư thì có thể áp dụng các biện pháp cơ bản như nhau là:

- Sau khi thu hoạch dọn sạch tàn dư cây trồng, có điều kiện nên ngâm nước ruộng một thời gian để diệt nấm.

- Nếu vụ trước ruộng bị hại nặng, nên luân canh cây khác trong 1 năm.

- Trồng mật độ vừa phải, không bón nhiều phân đạm.

- Ngắt bỏ bớt các lá già và lá bị bệnh, dùng màng nilon phủ đất, không để lá tiếp xúc với mặt đất.

- Khi cây dưa có 3-4 lá thật, dùng các thuốc gốc đồng như Copforce Blue, Dosay hay các thuốc Zin, Zineb Bul,.. phun phòng bệnh 2-3 lần cách nhau khoảng 10 ngày. Khi bệnh mới phát sinh cũng dùng các thuốc gốc đồng như trên hoặc các thuốc Dipomate, Thio-M, Mexyl –MZ, Carbenzim phun đẫm tán lá và cả gốc cây dưa.

- Không dùng hạt ở quả bị bệnh để làm giống.

Riêng đối với bệnh vi khuẩn, cần chú ý thêm các yêu cầu sau:

- Xử lý hạt giống trong dung dịch thuốc gốc đồng từ 5-10 phút.

- Khi bệnh mới phát sinh phun các thuốc gốc đồng hoặc các thuốc như Hỏa Tiễn, Saipan.

3. Xoăn lá cà chua:

Bệnh có thể xuất hiện ngay từ khi cây còn nhỏ đến tận lúc thu hoạch, nhưng phổ biến nhất là từ lúc cây bắt đầu ra hoa. Nguyên nhân là do một trong các loại virus tấn công gây hại cây cà chua ở vùng nhiệt đới như CMV, ToMV, TSWV, CTV,... Các loại virus này phải nhờ côn trùng làm môi giới để lây lan từ cây này sang cây khác mà cụ thể ở đây là một loài bọ phấn. Mật độ bọ phấn càng cao thì tỉ lệ cây bị xoăn lá càng nhiều. Bệnh này không lan truyền qua đất hoặc hạt giống. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết khô ráo, nắng nhiều mưa ít. Đối với bệnh có tác nhân do virus thì thường không có thuốc trị, mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa như:

- Dùng giống kháng bệnh.

- Vệ sinh đồng ruộng, bón phân cân đối, không bón nhiều đạm.

- Không trồng cà chua gần ruộng trồng khoai tây, bầu bí.

- Nhổ bỏ cây bị bệnh đưa xa ruộng để tiêu hủy.

- Phun thuốc trừ bọ phấn ngay từ trong vườn ươm và ngoài đồng.

Phòng trừ bệnh Panama cho chuối








9/10/2007


Bệnh héo rũ Panama của chuối do nấm Fusarium oxysporumf sp.cubense gây ra. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn tăng trưởng nào của cây.Đây là một loại bệnh ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của chuối.

Triệu chứng:

Cây chuối bị nhiễm bệnh Panama thường có hiện tượng vàng từ lá già bên dưới sau lan dần lên các lá non. Triệu chứng vàng phát triển từ bìa lá và lan vào hướng gân lá. Lá bị bệnh thường héo, cuống gãy và lá treo trên thân giả, đôi khi cuống lá cũng bị gãy ở phần giữa phiến lá. Trên các lá già bị héo khô quanh thân giả, chỉ còn một số lá đọt xanh và mọc thẳng, các lá đọt này có màu xanh nhạt hay hơi vàng hoặc bị méo mó, nhăn nheo, cuối cùng bị héo úa.

Cây bệnh chết nhưng thân không ngã đổ, các bẹ ngoài bị nứt dọc, các chồi con vẫn phát triển chung quanh nhưng sau đó cũng bị héo rụi. Cắt ngang thân giả sẽ thấy các bó mạch bị đổi màu nâu vàng, cắt ngang thân thật (củ chuối) các mạch có màu đỏ nâu và bốc mùi hôi.

Nấm bệnh lưu tồn trong đất và các cây bệnh. Nấm có thể sống hoại sinh trong củ chuối và các bộ phận khác một thời gian dài, lây lan chủ yếu theo cây chuối con và đất có mang mầm bệnh. Nấm bệnh xâm nhập chủ yếu qua chóp rễ hoặc qua vết thương ở rễ. Sau khi xâm nhập, nấm sẽ phát triển trong mạch mọc làm cho cây bị vàng héo.
Bệnh thường gây hại nặng trên chuối xiêm, chuối dong.

Biện pháp phòng:

- Nên chọn đất có độ pH hoà và hơi kiềm để trồng chuối.
- Không dùng chuối con ở các vườn bị bệnh làm giống, gọt sạch rễ và đất ở gốc trước khi trồng.
- Nên bón vôi vào các hố trồng, có thể nhúng gốc chuối con vào dung dịch Bordeaux hay các thuốc gốc đồng như: Funguran, COC 85, Kocide...
- Khi phát hiện cây bệnh nên đào bỏ các gốc bệnh và rải vôi khử đất.
- Nếu vườn chuyên canh chuối mà bị bệnh nặng nên ngưng canh tác, cho ngập nước từ 2-3 tháng để diệt mầm bệnh.
- Tưới thuốc vào đất ở các vườn chuối con bằng các loại thuốc như Bendazol 50WP, Viben 50BTN, Fudazole 50WP...
- Vườn bị bệnh nặng nên đổi trồng các giống chuối khác không mắc bệnh như chuối cau, chuối cơm, chuối già hương...

Công nghệ bảo quản trái dừa tươi từ 4-6 tuần








5/11/2007


Viện Nghiên cứu dầu và Cây có dầu (TP. Hồ Chí Minh) vừa nghiên cứu thực hiện thành công việc bảo quản trái dừa tươi 4-6 tuần mà vẫn giữ nguyên được chất lượng tự nhiên (màu sắc bên ngoài vẫn trắng, không bị hóa nâu), mở ra triển vọng xuất khẩu dừa tươi.

Viện đã khảo sát và phát hiện chất metabisulfit natri - loại hóa chất được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm - có thể dùng để xử lý bề mặt bên ngoài gáo dừa (dừa đã bóc lớp vỏ bên ngoài). Với liều lượng sử dụng và thời gian xử lý thích hợp, metabisulfit natri chỉ tồn tại bên ngoài vỏ quả dừa, vừa có tác dụng làm trắng vừa có khả năng tiêu diệt vi sinh vật bên ngoài gáo dừa. Do hóa chất không ngấm vào bên trong, cơm và nước dừa giữ được tính tự nhiên. Sau đó, quả dừa được bao bọc bằng một màng bao (chuyên dùng bảo quản trái cây) và bảo quản ở khoảng 5 độ C.

Bọ trĩ hại dưa hấu








6/11/2007


Bọ trĩ (tên khoa học là Thrips palmi), nông dân còn gọi là bù lạch, rầy lửa là một đối tượng sâu hại nguy hiểm nhất trên dưa hấu, gây hại nặng từ giai đoạn cây con đến ra hoa, đậu trái.

Bọ trưởng thành và bọ non cơ thể rất nhỏ, dài khoảng 1mm. Bọ trưởng thành màu vàng nhạt hay vàng đậm, cánh là những sợi tơ mảnh, cuối bụng thon. Bọ non không cánh, hình dạng giống trưởng thành, màu xanh vàng nhạt.

Bọ trưởng thành và bọ non đều sống tập trung ở đọt non hay mặt dưới lá non. Bọ trưởng thành di chuyển nhanh, đẻ trứng trong mô mặt dưới lá.

Bọ trĩ hút nhựa làm đọt và lá non xoăn lại, có nhiều đốm nhỏ màu vàng nhạt. Mật độ cao làm cây cằn cỗi không phát triển được, đọt dưa chùn lại, lá vàng và khô, hoa rụng, không đậu trái hoặc trái không lớn. Bọ trĩ gây hại nặng làm đọt non sượng, ngóc đầu lên cao, hiện tượng này nông dân gọi là dưa "đầu lân". Bọ trĩ cũng là môi giới lan truyền bệnh khảm cho cây dưa.

Bọ trĩ phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô, có sức đề kháng thuốc cao và mau quen thuốc. Gặp điều kiện thích hợp, bọ trĩ phát triển rất nhanh, dễ gây thành dịch, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và năng suất dưa hấu.

Vòng đời bọ trĩ tương đối ngắn, trung bình 15-18 ngày.

Phòng trừ:
- Đốt các tàn dư thực vật.
- Chăm sóc cho cây dưa hấu sinh trưởng tốt để hạn chế tác hại của bọ trĩ.
- Phun thuốc kỹ vào đọt non cây dưa vào lúc chiều mát, nên phun đồng loạt cả cánh đồng dưa:
+ Oncol 25WP : 20 g/bình 8 lít nước ; Oncol 20EC : 25 ml/bình 8 lít
+ Mospilan 3 EC : 10 ml/bình 8 lít ; Mospilan 20SP : 2,5 g/bình 16 lít
+ Lannate 40SP : 12-24 g/bình 8 lít.